DẪN NHẬP
- Mục đích chọn đề tài nầy.
Nói đến Thiền tông thì hai vị Tổ có ảnh hưởng tối quan trọng là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma và Lục Tổ Huệ Năng. Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đã đem hạt giống Thiền tông từ Ấn Ðộ qua gieo trồng tại Trung Hoa vào khoảng năm 520. Tổ là vị tổ thứ 28 tại Ấn Ðộ nhưng từ khi Tổ qua Trung Hoa và thực sự đặt nền móng cho Thiền tông tại Trung Hoa thì được coi là Sơ Tổ Thiền tông tại Trung Hoa. Sau chín năm ở Trung Hoa Tổ truyền y bát cho tổ Huệ Khả (487-593) tức vị tổ Thiền tông thứ hai. Kế đến là các Tổ: Tăng Xán, Ðạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. Như vậy tổ Huệ Năng (638-713) là vị tổ thứ sáu ở Trung Hoa. Cuộc đời và việc truyền pháp của Tổ được ghi rõ trong kinh "Pháp Bảo Ðàn". Cho tới nay sau hơn một ngàn ba trăm năm tuy Thiền tông có chia thành nhiều hệ phái nhưng căn bản do Lục Tổ đặt ra vẫn là nòng cốt chỉ đạo. Theo D.T. Suzuki thì "Kinh Pháp Bảo Ðàn xứng đáng là một công trình vĩ đại vì đã định hướng cho tư tưởng Phật giáo trong nhiều thế kỷ tại Trung Hoa."Nếu muốn tu hành Thiền tông cho có căn bản thì cần thấu triệt những lời chỉ dạy :”Thiền pháp của Lục Tổ Huệ Năng”. Chính vấn đề trên cho nên chúng tôi xin chọn đề tài này.
- Lược truyện Lục Tổ Huệ Năng
Tổ họ Lư, tên Huệ Năng, sanh trong gia đình nghèo túng, mồ côi cha từ khi ba tuổi. Hàng ngày Huệ Năng phải vào rừng đốn củi đem bán để nuôi mẹ. Ðến năm 22 tuổi, một hôm chỉ mới được nghe người khác tụng kinh Kim Cang mà đã tỉnh ngộ và nhờ có duyên tốt, được người giúp đỡ, nên có dịp đến theo học Ngũ tổ Hoằng Nhẫn tại huyện Huỳnh Mai. Khi Huệ Năng đến yết kiến Ngũ Tổ thì Ngũ Tổ hỏi: "Ðến đây cầu việc gì?" Huệ Năng đáp: "Ðến đây chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác." Tổ tiếp: "Ngươi là người xứ Lãnh Nam, lại là dân man rợ, thế nào thành Phật được! " Huệ Năng đáp: "Con người tuy có phân chia Nam Bắc, chớ Phật tánh vốn không có Nam Bắc. Cái thân man rợ này đối với hòa thượng tuy chẳng giống nhau, nhưng cái tánh Phật đâu có khác!" Dù chỉ mới bắt đầu xin theo học mà Huệ Năng đã tỏ ra hơn người, vì đã thấy rõ mục đích Thiền là thành Phật, thấy rõ Phật tánh mọi người như nhau. Cũng nên nhớ 'thành Phật' tức là được 'giác ngộ', thấy rõ được Phật tánh, tự Tánh. Ngũ Tổ thầm nhận Huệ Năng là người khác thường rồi. Sau đó Huệ Năng, vì vẫn là một cư sĩ, chỉ được giao cho công việc giã gạo ở nhà sau chứ chưa được lên nhà trên theo học như các tăng khác. Tuy vậy Huệ Năng vẫn nhẫn nại giã gạo được hơn tám tháng. Tới lúc Ngũ Tổ thấy thời cơ truyền pháp đã đến, ra lệnh cho toàn chúng trình kệ để chọn người kế thừa. Ngũ Tổ nói: "Sanh tử là việc lớn, các ngươi suốt ngày chỉ cầu phước, chẳng cầu lìa khỏi biển khổ sanh tử. Nếu mê tự tánh thì phước làm sao có thể cứu được? Các ngươi mỗi người hãy tự xem trí Bát nhã của tự tánh và làm một bài kệ trình cho ta xem, nếu ai ngộ được đại ý, thì ta sẽ trao truyền y bát cho làm Tổ thứ sáu." Tất cả chúng bảy trăm người đều tin rằng chỉ có giáo thọ sư của họ là Thượng tọa Thần Tú mới đủ khả năng làm việc này nên không ai dám nghĩ đến việc trình kệ. Thần Tú trình bài kệ:
"Thân thị Bồ Ðề thọ,
Tâm như minh cảnh đài,
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai."
Tâm như minh cảnh đài,
Thời thời cần phất thức,
Vật sử nhạ trần ai."
Do không biết chữ nên Huệ Năng nhờ người viết đối lại với bài kệ trên:
"Bồ đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai."
Minh cảnh diệc phi đài.
Bản lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai."
Vì muốn trao y bát nên mời bảo ngài Huệ Năng đến nửa đêm vào trượng thất, vì ngài nói kinh Kim Cang đến câu Nên không có chỗ trụ mà sanh tâm kia, Lục Tổ đại ngộ và nói: Đâu ngờ tự tánh xưa nay thanh tịnh! Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt! Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động! Đâu ngờ tự tánh hay sanh ra muôn pháp! Ngũ Tổ biết ngài đã triệt ngộ mới trao y bát. Và ngay đêm ấy Ngũ Tổ đưa ngài đến bến Cửu Giang, trên thuyền ngài Huệ Năng lại có lời đối đáp Khi mê thì thầy độ, khi ngộ thì con tự độ. Ngũ Tổ trở về, trải qua ba ngày mới bảo với đại chúng: Y bát đã đi về phương nam. Chúng biết được liền qua sông hướng về phía Lãnh Nam đuổi bắt.
- Lập trường của Lục Tổ trong kinh Pháp Bảo Đàn.
Tổ Huệ Năng do nghe kinh Kim Cang Bát-nhã mà ngộ. Sau khi được Ngũ tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: “Khi phát tâm cầu Vô thượng Chánh giác, làm sao an trụ tâm?” Phật đáp: “Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy.” Ngài đại ngộ kêu lên: “Ðâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Ðâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt! Ðâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Ðâu ngờ tánh mình vốn không dao động! Ðâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp!” Ngũ Tổ bảo: “Chẳng biết Bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được Bản tâm mình, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật...” Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu. Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lý Bát-nhã không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc, mà nhảy vọt vào Thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính mình. Chính Thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản lai diện mục, đã có sẵn từ vô thủy nơi tất cả chúng ta. Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Ðốn ngộ, là Kiến tánh. Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện.
Lục Tổ vì phương tiện lập Tam vô: Vô niệm làm tông, Vô tướng làm thể, Vô trụ làm bổn. Theo Lục Tổ giải: Ðối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc. Ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay lìa tướng tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể. Ðối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Ðàn, phẩm Ðịnh Huệ.
I. BỐI CẢNH LỊCH SỬ CỦA THIỀN ĐÔNG ĐỘ
Qua câu hỏi của Ngũ tổ: "Gạo giã đã trắng chưa?", nếu câu ấy Tổ hỏi chúng ta, chắc chúng ta sẽ trả lời một trong hai trường hợp: "Đã trắng hoặc chưa được trắng". Còn Huệ Năng hiểu theo mật ý là đã đạt đạo chưa? Do đó Ngài trả lời là "Gạo giã đã trắng, chỉ còn thiếu cái sàng", có nghĩa là lý đạo đã thấu nhưng còn chờ người chứng đắc cho. Rồi Ngũ tổ tay đang cầm quạt, gõ vào cối ba cái, Ngài Huệ Năng hiểu liền đó là ước hẹn vào canh ba, cho nên Ngài Huệ Năng canh ba đêm đó liền lẻn vào phương trượng của Ngài Hoằng Mai, từ lời lẽ trong bài kệ đến những câu đối đáp, nhậm ý chứng tỏ căn tánh Ngài Huệ Năng đã đạt đạo. Do đó Ngũ tổ đã trao truyền tâm ấn, giao phó cho Lục tổ trách nhiệm hoằng pháp, độ sanh, xiển dương chánh pháp, làm cho dòng Thiền Đông độ ngày càng hưng thịnh hơn.
Lục tổ lấy kinh nghiệm bản thân mình, không cần phải đọc thiên kinh, vạn quyển, chỉ giữ cho tâm thanh tịnh, trí Bát nhã tự nhiên sanh, chính Lục tổ đã tỏ ngộ được từ kinh Kim Cang, một kinh sắc như gươm, chặt đứt mọi phiền não, triệt để phá chấp. Lục tổ dùng kinh Kim Cang làm tôn chỉ cho tông Vô niệm của Ngài để lưu truyền hậu thế, thay cho Lăng già do Sơ tổ Bồ đề Đạt Ma từ Ấn Độ mang sang truyền trao lại.
II. KHÁI QUÁT TƯ TƯỞNG HỌC CỦA LỤC TỔ:
1. Đối với kinh Bát Nhã:
Tổ giảng về pháp Ma ha Bát nhã Ba la mật đa, có nghĩa là đại trí huệ đến bờ bên kia. Pháp tu này đạt thẳng mục đích của Thiền là Kiến Tánh Thành Phật. Tất cả chúng sinh, từ người ngu đến kẻ trí đều có Phật tánh như nhau. Khác nhau ở chỗ là kẻ mê, người ngộ. Vì vậy nên Tổ chỉ rõ thêm: "Phàm phu tức Phật, phiền não tức Bồ đề; niệm trước mê tức phàm phu, niệm sau ngộ tức Phật. Niệm trước chấp cảnh tức phiền não, niệm sau lìa cảnh tức Bồ đề." Thế nào là mê, mê đây là không thấy được tự tánh của mình. "Bản tánh là Phật, lìa tánh chẳng có Phật ... Trí Bát nhã đều từ bản tánh mà sanh, chẳng phải từ bên ngoài vào, không nên lầm với ý thức". Tất cả muôn pháp đều ở trong tự tánh của con người, hoặc nói cách khác là tự tánh bao hàm muôn pháp. Ngay cả chư Phật ba đời , mười hai bộ Kinh cũng đầy đủ ở trong tự tánh. Cần biết rõ những danh từ tự tánh, bản tánh là để chỉ cái bản thể của mỗi người, đó là cái không sanh, không diệt, không biến đổi, thường hằng. Không nên lầm với danh từ tánh tình, tánh nết là những hiện tượng do duyên hợp tạo nên, luôn thay đổi, không có một thực thể. Thí dụ ta không thể nói người đó bản tánh nóng, vì lúc gặp một việc vui mừng người đó cũng vui vẻ như những người khác, vậy lúc đó tánh nóng ở chỗ nào; hoặc nếu người đó được dạy bảo thì cũng bỏ hẳn hoặc bớt tánh nóng. Khi thấy rõ bản tâm tức là giải thoát, là đạt được Bát nhã Tam muội, tức Vô niệm. "Vô niệm là thấy tất cả các pháp mà tâm không nhiễm vương, dính níu." Cũng có người hiểu rằng Vô niệm là dứt bặt tư tưởng, không nghĩ ngợi gì hết. Lục Tổ cảnh giác liền là "chẳng phải như người lầm tưởng, cho là 'trăm điều chẳng nghĩ, khiến cho niệm tưởng tuyệt dứt' đó là bị pháp trói buộc, tức là biên kiến." Trong phẩm này Tổ cũng hai lần cảnh giác những người chấp Không và để tâm Không mà ngồi Thiền là sai lầm: "lại có kẻ mê để tâm 'không' mà tĩnh tọa, trăm điều chẳng nghĩ, với bọn người này không thể nói gì được, vì họ bị rơi vào tà kiến."
Trong phẩm này có những lời dạy rất thực tế "người đời suốt ngày miệng niệm Bát nhã mà chẳng nhận được Tự tánh Bát nhã, cũng như người nói ăn mà không ăn nên chẳng no được, miệng chỉ thuyết Không, muôn kiếp chẳng được Kiến tánh ... Cần phải tâm hành, chẳng ở miệng niệm, miệng niệm tâm chẳng hành thì cũng như huyễn hóa ... Ðối với tất cả các pháp, dùng trí huệ của chân như tự tánh chiếu soi, chẳng chấp, chẳng bỏ, tức là Kiến tánh thành Phật." Tổ chỉ rõ là cần tu hạnh Bát nhã, thực hành theo kinh Kim Cang thì sẽ được kiến tánh.
2. Đối với việc sám hối.
Các thiện tri thức, việc này phải ở trong tự tánh mà khởi, bất cứ lúc nào niệm niệm, tự tịnh nơi tâm, tự tu tự hành, tự thấy Pháp Thân, tự thấy tâm Phật, tự độ tự giới, như vậy mới chẳng uổng công đến đây. Ðã từ xa đến, gặp nhau nơi đây đều là có duyên. Nay các ngươi hãy quỳ xuống. Ta vì các ngươi truyền năm phần hương pháp thân của tự tánh, kế đó thọ vô tướng sám hối. Ðại chúng cùng quỳ xuống. Sư nói: Một là giới hương : Tức trong tự tâm chẳng quấy chẳng ác, chẳng ganh tỵ, chẳng tham sân, chẳng cướp hại gọi là giới hương. Hai là định hương: Thấy những cảnh tướng thiện ác tự tâm chẳng loạn, gọi là định hương. Ba là huệ hương: Tự tâm vô ngại, thường dùng trí huệ chiếu soi tự tánh, chẳng tạo điều ác, dù tu nhiều thiện mà tâm chẳng chấp trước, kính trên mến dưới, thương xót kẻ cô đơn nghèo nàn, gọi là huệ hương. Bốn là giải thoát hương: Tự tâm chẳng phan duyên, chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, tự tại vô ngại, gọi là giải thoát hương. Năm là giải thoát tri kiến hương: Tự tâm đã chẳng phan duyên thiện ác, chớ nên trầm không trệ tịch, phải tu học pháp tối thượng thừa, nhận tự bản tâm, thông đạt lý Phật, hạ mình để tiếp người, vô nhơn vô ngã, thẳng đến Bồ đề, chơn tánh chẳng đổi gọi là giải thoát tri kiến hương. Thiện tri thức, hương này mỗi người tự huân tập trong tâm, chớ tìm bên ngoài. Nay vì các ngươi truyền thọ VÔ TƯỚNG SÁM HỐI, diệt tội tam thế, khiến cho tam nghiệp thanh tịnh. Thế nào là SÁM? Thế nào là HỐI? Sám là sám trừ tội trước, từ trước tất cả các tội ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ thảy đều sám hết, chẳng bao giờ khởi nữa gọi là sám. Hối là hối cải lỗi sau, tất cả ác nghiệp ngu mê, kiêu căng, dối trá, ganh tỵ... nay đã giác ngộ, đều cho đoạn dứt, chẳng bao giờ tạo nữa gọi là hối. Phàm phu ngu mê, chỉ biết sám trừ tội trước, chẳng biết hối cải lỗi sau, vì chẳng hối cải, nên tội trước chẳng diệt, tội sau lại sanh, tội trước đã chẳng diệt, tội sau lại tiếp tục, như thế làm sao gọi là SÁM HỐI được!
3. Về Định huệ
Sư dạy chúng rằng: Thiện tri thức, pháp môn này lấy ÐỊNH HUỆ làm gốc. Các ngươi chớ lầm rằng ÐỊNH với HUỆ có khác; ÐỊNH HUỆ vốn nhất thể, chẳng phải là hai. Ðịnh là thể của Huệ, Huệ là dụng của Ðịnh, ngay trong lúc huệ có định, ngay trong lúc định có huệ, thấu được nghiã này tức là định huệ đồng nhau. Các ngươi học đạo chớ cho là trước phát định sau phát huệ, hay trước huệ sau định có khác, kiến giải như vậy thành ra pháp có nhị tướng. Miệng tuy nói lành mà trong tâm chẳng lành, tuy có định huệ mà định huệ chẳng đồng nhau. Nếu tâm miệng đều lành, trong ngoài nhất thể, tức là định huệ đồng nhau.
Thiện tri thức, ÐỊNH HUỆ ví như cái gì? Như đèn và ánh sáng: có đèn thì sáng, không đèn thì tối; đèn là thể của sáng, sáng là dụng của đèn, tên tuy có hai, thể vốn là một, pháp ÐỊNH HUỆ cũng vậy. Sư dạy chúng rằng: Thiện tri thức, nói nhất hạnh tam muội, là ở tất cả mọi nơi đi đứng nằm ngồi thường hành trực tâm. Chớ nên tâm hạnh quanh co, miệng thì nói trực, nói nhất hạnh tam muội mà chẳng hành trực tâm. Người hành trực tâm, đối với tất cả pháp chẳng nên chấp trước. Kẻ mê chấp pháp tướng, chấp nhất hạnh tam muội, cứ nói ngồi yên chẳng động, vọng chẳng khởi nơi tâm tức là nhất hạnh tam muội; kiến giải như vậy đồng với vô tình, đó là nhân duyên chướng đạo.Sư dạy chúng rằng: Thiện tri thức, đạo cần phải linh động, chớ nên làm cho ngăn trệ. Tâm chẳng trụ pháp thì đạo được linh động, tâm nếu trụ pháp, gọi là tự trói.
III. YẾU CHỈ THIỀN ĐÔNG ĐỘ
1. Vô niệm: Đối với mọi cảnh tâm chẳng nhiễm, trong niệm thường tự lià mọi cảnh, chẳng ở trên cảnh sanh tâm gọi là VÔ NIỆM và là ở nơi niệm mà chẳng niệm"vô niệm là đối với niệm mà không niệm", "đối trên các cảnh tâm không nhiễm gọi là vô niệm. Đối trên niệm thường lìa các cảnh, chẳng ở trên cảnh mà sanh tâm. Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to", Vô đó là không có hai tướng, không có các tâm trần lao; niệm là niệm Chân như Bản tánh. Chân như tức là thể của niệm, niệm tức là dụng của Chân như, Chân như Tự tánh khởi niệm, không phải mắt tai mũi lưỡi hay khởi niệm, Chân như có tánh cho nên khởi niệm, Chân như nếu không có tánh thì mắt tai sắc thanh chính khi ấy liền hoại." Nếu thấy tất cả pháp mà tâm không nhiễm trước, ấy là vô niệm, dụng tức khắp tất cả chỗ, cũng không dính mắc tất cả chỗ, chỉ thanh tịnh nơi bản tâm khiến sáu thức ra sáu cửa đối trong sáu trần không nhiễm không tạp, đi lại tự do, thông dụng không kẹt, tức là Bát-nhã tam-muội, tự tại giải thoát gọi là vô niệm hạnh.". Vô niệm làm tông
2.Vô trụ: là bản tánh của con người đối với tất cả sự vật, thiện ác, tốt xấu, kẻ thù, người thân trên thế gian, cho đến lúc bị người nói xấu, khi dễ, đều cho là không, chẳng nghĩ trả thù, niệm niệm chẳng nghĩ ngoại cảnh. Nếu niệm trước, niệm sau và đang niệm, niệm niệm theo cảnh chẳng dứt, gọi là trói buộc, đối với tất cả pháp niệm niệm chẳng trụ tức là chẳng trói buộc vậy, Thiền sư Huệ Hải còn nói rõ về Vô trụ: "Tâm không trụ là tâm Phật."."Người đời do mê bên ngoài nên chấp tướng, mê bên trong nên chấp không. Nếu hay nơi tướng mà lìa tướng, nơi không mà lìa không thì trong ngoài chẳng mê"."Nếu ở tất cả chỗ mà không trụ tướng, ở trong tướng kia, không sanh yêu ghét, cũng không thủ xả, chẳng nghĩ các việc lợi ích thành hoại v.v... an nhàn điềm tịnh, hư dung đạm bạc, đây gọi là nhất tướng tam-muội.". Tổ nói: "Đối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược (không bị trói buộc), đây là lấy vô trụ làm gốc".
3. Vô tướng: là ở nơi tướng mà lià tướng, vô tướng là thấy người mà không cần biết đó là đàn ông hay đàn bà, không cần biết tên người đó là gì,. … Vô tướng là ngay nơi tướng mà lìa tướng đó mới gọi là vô tướng. Thí dụ như ngay bình bông này mà lìa bình bông là thế nào? Chúng ta cũng nhìn bình bông, nhưng không có niệm phân biệt đẹp xấu, là ngay bình bông mà lìa bình bông. Nếu vừa nhìn bình bông liền phân biệt đẹp xấu là dính mắc nơi bình bông, như vậy lìa bình bông là thấy mà không dính, chớ không phải nhắm mắt đừng thấy nó mới gọi là lìa. Chỗ này phải hiểu cho rõ cho khỏi lầm, nghe nói lìa tướng rồi đi đâu cũng che mắt lại, không nhìn cảnh vật vì sợ thấy nó là kẹt với tướng. Không phải như thế. Ngay nơi tướng, thấy vẫn thấy nhưng không thêm niệm gì để phân biệt, để so sánh thì đó là lìa tướng; nơi tướng mà lài tướng đó là vô tướng. (kinh Pháp Bảo Đàn, HT Thích Thanh Từ dịch).
IV. ẢNH HƯỞNG CỦA LỤC TỔ ĐẾN CÁC CAO ĐỒ
1.Thanh Nguyên Hành Tư
Sư quê ở Kiết Châu, Sư lúc đầu gặp Lục Tổ hỏi: “Phải làm việc gì mới chẳng rơi vào giai cấp?” Tổ bảo:” Ông từng làm việc gì?”
Đáp: Thánh đế cũng chẳng làm.
Tổ bảo:”Rơi vào giai cấp nào?”
Đáp: Thánh đế cũng chẳng làm, làm gì có giai cấp?
Lục Tổ nhận ngài là bậc pháp khí, cho làm thủ tọa. Về sau sư trở về núi Thanh Nguyên thuộc Giang Tây, ở ẩn trong chùa Tịnh Cư. Khi Lục Tổ sắp tịch diệt, sa-di Hy Thiên hỏi:”Sau khi Hòa thượng trăm tuổi, Hy Thiên con chưa biết phải nương tựa vào người nào?” Tổ bảo: “Tầm Tư đi!”
Sa-di Hy Thiên cho rằng Tổ bảo mình Tầm Tư, sau khi Tổ tịch diệt, sư thường ngồi một mình lặng lẽ tư duy, lặng lẽ như quên thân. Có vị thượng tọa hỏi:”Thầy của ông đã tịch diệt, ông ngồi đây để làm gì?”
Hy Thiên thưa:” Tôi vâng theo lời di chúc của thầy tôi, cho nên tôi Tầm Tư như thế!”
Thượng tọa bảo:”Ông có sư huynh tên là Hành Tư, hiện nay ở Kiết Châu, nhơn duyên của ông ở đó, thầy nói rất đúng, má sao ông mê muội vậy.
Hy Thiên vâng theo lời chỉ dạy của thượng tọa, bèn đi đến Kiết Châu gần gũi ngài Hành Tư. Hành Tư gặp Hy Thiên hỏi:”Ngươi từ phương nào đến?”
Đáp: Con từ Tào Khê đến!
Hỏi:”Ở Tào Khê có đem được vật gì đến chăng?”
Đáp:”Chưa đến Tào Khê cũng chẳng mất.”
Hành Tư đáp bảo:” Mặc tình dùng đi, đến Tào Khê làm gì?”
Đáp:” Nếu không đến Tào Khê, đâu biết chẳng mất!”
Hy Thiên ở nơi ngài Hành Tư, hầu hạ mười lăm năm.
2. Nam Nhạc Hoài Nhượng
Sư quê ở Kim Châu, năm mười lăm tuổi, sư đến chùa Ngọc Tuyền ở Kiết Châu nương luật sư Hoằng Cảnh để xuất gia sau khi thọ giới cụ túc, bạn đồng học là Thản Nhiên cùng đi đến chỗ hòa thượng Huệ An. Theo lời chỉ dạy của Huệ An, sư bèn đi đến Tào Khê. Lục Tổ hỏi: Từ đâu đến?
Đáp:Tung Sơn đến.
Tổ hỏi: Vật gì đến?
Đáp:Nói là một vật tức chẳng trúng.
Tổ bảo:Có thể tu chứng chăng?
Đáp:Tu chứng thì chẳng không, nhiễm ô thì chẳng được.
Tổ bảo:Chỉ cái chẳng nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế! Tổ Bát-nhã-đa-la ở Tây Thiên, có lời sấm rằng: “Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện nhất mã câu (một con ngựa tơ) đạp chết người trong thiên hạ, ứng tại tâm ngươi không cần nói sớm”.
Hoài Nhượng khế ngộ, hầu hạ Tổ mười lăm năm, mới về chùa Bát-nhã ở núi Nam Nhạc xiển dương Thiền tông.
V. THIỀN PHÁP CỦA LỤC TỔ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THIỀN TÔNG VIỆT NAM
1.Thiền phái Vô Ngôn Thông: Truyền thừa trong bốn thế kỷ (từ đầu thế kỷ thứ chín đến đầu thế kỷ thứ mười ba), trong khi thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi có một lịch sử truyền thừa dài sáu thế kỷ (từ thế kỷ thứ sáu đến thế kỷ thứ mười ba). Thiền phái Vô Ngôn Thông chịu ảnh hưởng Phật Giáo Trung Hoa sâu đậm hơn thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi. Ảnh hưởng nay được thấy trong lối trình bày lịch sử Thiền, trong lối tổ chức tu viện, trongviệc sử dụng thoại đầu, và ở chỗ ảnh hưởng của Tịnh Ðộ Giáo. Các thiền sư trong thiền phái này thay vì chỉ dùng các kinh Bát Nhã, đã sử dụng rất nhiều các kinh điển khác như kinh Viên Giác, Pháp Hoa, họ nhấn mạnh đến chủ trương đốn ngộ và vô đắc vốn rất gần gũi với giáo lý thiền phái Nam Phương ở Trung Hoa. Nhưng khác với thiền phái Trung Hoa, thiền phái này, cũng như thiền phái Tỳ Ni Ða Lưu Chi, đã rất gần gũi với đời sống xã hội, tham dự vào đời sống nhập thế trong khi vẫn duy trì được sinh hoạt tâm linh độc lập của mình. Do Thiền sư Vô Ngôn Thông, người Trung Hoa, đệ tử đắc pháp của tổ Bá trượng truyền sang. Năm 820, Sư từ Quảng Châu sang Việt Nam ở chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, huyện Tiên Đức, Bắc Ninh, gặp nhà sư Lập Đức tiếp nhận được tông chỉ, Sư truyền pháp và đổi tên là Cảm Thành. Từ đó, Việt Nam có thêm dòng thiền Vô Ngôn Thông, cũng gọi là dòng Kiến Sơ.
2. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử: là một dòng thiền Việt Nam đời nhà Trần, do Trần Nhân Tông sáng lập. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Đạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm Đầu Đà), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Đường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa-lưu-chi. Thiền phái Trúc Lâm được xem là dạng Phật giáo chính thức của Đại Việt thời đó nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn. Vì vậy, sau ba vị Tổ nói trên, hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ không bị gián đoạn bởi vì đến thời kì Trịnh-Nguyễn phân tranh (1600-1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị Thiền sư của Trúc Lâm Yên Tử như Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Đại Thâm và nổi bật nhất là Thiền sư Minh Châu Hương Hải (theo Nguyễn Hiền Đức). Sau một thời gian ẩn dật, dòng thiền này sản sinh ra một vị Thiền sư xuất sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm. Trong thế kỉ thứ 17-18, thiền phái này được hoà nhập vào tông Lâm Tế và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Đăng. Thiền phái Trúc Lâm tuy do Đại đầu đà Trúc Lâm làm Sơ Tổ, nhưng mạch nguồn Yên Tử vốn bắt đầu từ Thiền sư Hiện Quang, chính Sư là người khai sơn chùa Vân Yên, sau đổi là Hoa Yên, trên núi Yên Tử. Sư là đệ tử nối pháp của Thiền sư Thường Chiếu, trước ở núi Từ Sơn, sau mới đến Yên Tử và chính là Tổ ban đầu của dòng truyền Yên Tử.
VI. KẾT LUẬN
Nói tóm lại tổ Huệ Năng, qua cuốn Pháp Bảo Đàn kinh đã chỉ cho chúng ta pháp môn Vô niệm, Vô tướng, Vô trụ và đưa Thiền tông lên một bước tiến quan trọng. Vô niệm không có nghĩa đơn giản là kềm giữ để không có niệm nào. Niệm vẫn luôn tự khởi do hoạt động của bộ óc con người, trong đời sống hàng ngày vẫn cần có những sự suy tính, phân biệt, như là đói thì nghĩ đến ăn, mệt thì nghĩ đến ngủ. Nhưng nếu coi kỹ lại thì thấy trong đầu chúng ta, ngày cũng như đêm, lúc nào cũng ồn ào đủ mọi thứ chuyện, không lúc nào ngừng. Vô niệm là không có những tà niệm, như thiền sư Huệ Hải đã nói. "Vô niệm tức là không có cảnh giới hay đối tượng nào cả." Đứng về phương diện kinh điển mà nói thì đó là pháp môn "bất nhị", là trí bát nhã.
THƯ MỤC THAM KHẢO
1. Pháp Bảo Đàn kinh, do HT Thích Thanh Từ dịch.
2. Thần Hội Pháp Ngữ, do Tỳ kheo Thích Hằng Đạt dịch.
3. Kinh Văn Thù sư lợi sớ thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, do HT Thích Minh Lễ dịch.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét