Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Tìm hiểu giá trị “Cư trần lạc đạo phú” của Phật hoàng Trần Nhân Tông

 25-02-2012
Trong quá trình hình thành và phát triển Phật giáo Đại Việt, Thiền phái Trúc Lâm đã gắn chặt với tâm tư tình cảm nhân dân, thể hiện đạo lý tình người và tạo ra sức mạnh toàn dân chiến thắng quân thù. Quan trọng hơn, tư tưởng Thiền phái không chỉ dừng lại ở giá trị đó mà còn để lại cho hậu thế một giá trị văn hóa tư tưởng đi sâu vào triết lý, đạo đức nhân sinh của dân tộc.
>Đưa giá trị, tư tưởng của Phật hoàng Trần Nhân Tông ra thế giới


>Cựu Tổng thống Latvia: Tư tưởng Trần Nhân Tông cổ vũ tinh thần hòa hợp thế giới




>Tiểu sử Phật hoàng Trần Nhân Tông (1258 - 1308)


 


Một trong những đại biểu khai sáng và định hình tư tưởng Thiền phái Trúc Lâm là Sơ Tổ Điều ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông. Ông đã để lại một dấu ấn giá trị tâm linh thiền đạo qua sự nghiệp sáng tác văn chương khá đồ sộ, có nhiều đóng góp cho văn học trung đại nói chung, văn học Phật giáo Thiền tông nói riêng.  Việc tim hiểu giá trị Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông sẽ cho chúng ta có cái nhìn đúng đắn về tư tưởng Thiền học được phản ánh qua sinh hoạt Thiền phái và ý thức tự chủ của dân tộc Đại Việt qua văn hóa, văn học, ngôn ngữ chữ Nôm và những xúc cảm chân thành trước quê hương đất nước.

1.         Đôi nét về tác giả, tác phẩm:
Không phải ngẫu nhiên lịch sử tôn vinh Trần Nhân Tông là vị anh hùng, là nhà văn hoá của dân tộc. Ông sinh ra và lớn lên trên quê hương Đại Việt hào hùng vào những năm tháng cha ông đã làm nền những chiến công lẫy lừng, đánh Tống bình Nguyên. Là con đầu của Trần Thánh Tông, sinh ngày 11 tháng mười một năm Mậu Ngọ (1258), ông làm vua từ năm Kỷ mão (1279), đến năm 1293 thì nhường ngôi cho con, và nghiên cứu Phật học. Nhưng mãi đến 1298, ông mới thật sự khoác áo cà sa thuyết pháp độ sinh khắp nơi, làm Tổ Trúc Lâm và được nhân dân tôn vinh là Phật Điều Ngự Giác Hoàng. Tên tuổi ông gắn liền hai cuộc chiến tranh thần thánh chống quân Nguyên Mông chỉ có ở Việt Nam. Ông là một vị vua, đồng thời là thiền sư - thi sĩ, với một tâm hồn chân chất của một nông dân thực thụ quả là độc nhất vô nhị.
Thơ văn Lý Trần, tập II ghi nhận ông là “nhà văn hoá, nhà thơ xuất sắc ở thế kỷ XIII.  Ông đã sáng lập ra dòng Thiền Trúc Lâm ở Việt Nam, đáp ứng một nhu cầu sinh hoạt tinh thần của người Việt đương thời, mặt khác cũng nhằm góp phần vào xây dựng một nước Đại Việt có quy mô bề thế, có văn hoá độc lập, chống lại những ngoại lai, phi dân tộc.”(1) Sau khi nhường ngôi cho con, làm Thái thượng hoàng và làm Tổ Trúc Lâm hoằng pháp độ sinh. Điều này sách Tam Tổ thực lục nói “Điều Ngự đi khắp mọi nẻo thôn quê, khuyên dân phá bỏ các dâm từ và thực hành giáo lý Thập thiện”(2). Cũng chính con người với nhiều trọng trách như thế nên sự nghiệp sáng tác của ông khá phong phú. Những tác phẩm đó đã phản ánh đúng tư tưởng của Trần Nhân Tông như: Trần Nhân Tông thi tập, Tăng già toái sự, Đại Hương Hải ấn thi tập, Thạch thất mỵ ngữ… Đáng chú ý nhất là hai tác phẩm chữ Nôm Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca không chỉ có giá trị về mặt nội dung tư tưởng Thiền học mà còn góp phần cắm cái mốc cho sự phát triển tiếng Việt trong lịch sử văn học dân tộc.  Là một áng văn Nôm được viết theo thể phú gồm 10 hội, viết về tư tưởng Thiền: ở đời mà vui với đạo có tên chính thức Cư Trần lạc đạo phú. Có thể nói tác phẩm này là bản tuyên ngôn của con đường sống đạo mà Phật giáo Đại Việt đã đề ra và chi phối toàn bộ tư tưởng, cuộc sống người dân lúc bấy giờ. Nó cũng là một trong những tác phẩm được giới nghiên cứu Phật giáo và văn hoá dân tộc Việt Nam quan tâm khá đặc biệt, được trích dẫn đích danh khi thiền sư Chân Nguyên trình bày cho vua Lê Chính Hoà vào khoảng những năm 1692 trong Kiến tính thành Phật lục (3). Chính vì thế, nó góp phần tác động vào sự tồn tại và ảnh hưởng của nó trong quá trình truyền đạt tư tưởng Thiền học Việt Nam.  Theo Lê Mạnh Thát (4), bản in xưa nhất của tác phẩm này năm là vào 1745 do Sa di ni Diệu Liên vâng lệnh thầy mình in lại và bản gỗ lưu lại ở chùa Liên Hoa - Thăng Long. Nó được in kèm theo Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang và Ngộ đạo nhân duyên kệ của Chân Nguyên. Việc in kèm như thế, chứng tỏ văn bản mà ni cô Diệu Liên dùng để in phải đến từ một truyền bản của Chân Nguyên, tức là bản của nửa cuối thế kỷ thứ XVII. Từ đây, vấn đề truyền bản của Cư trần lạc đạo phú khá rõ ràng. Trong lời dẫn bản in 1930 trong Thiền tông bản hạnh, thiền sư Thanh Hanh (1840 – 1936) cho biết vào năm Gia Long thứ 12 (1814) bản Thiền tông bản hạnh đã được in lại và cùng với nó chắc chắn phải có Cư trần lạc đạo phú và Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca. Hơn nữa, khi lập bản mục lục các kinh sách Phật giáo trong Đạo giáo nguyên lưu quyển thượng tờ 5aa, An Thiên có ghi tên một tác phẩm Trần triều thập hội lục. Rõ ràng, Thập hội lục của triều Trần chính là 10 hội của Cư trần lạc đạo phú.
2.         Giá trị nội dung tư tưởng Thiền học bài Cư trần lạc đạo phú
Toàn bài gồm 10 hội, mỗi hội co dãn từ 13 câu (Hội thứ ba và bốn) cho tới 30 câu. Và mỗi hội gieo một vần, các hội chẳn gieo vần bằng và các hội lẻ gieo vần trắc. Cuối hội thứ mười thì có thêm bài kệ theo thể thất ngôn tứ tuyệt bằng chữ Hán. Có thể xem bài kệ ở cuối tác phẩm đã thể hiện chủ đề tư tưởng thiền học của bài phú, đồng thời là cơ sở lý luận hình thành chủ thuyết “Cư trần lạc đạo” của Thiền phái Trúc Lâm.
2.1.      Chủ thuyết Cư trần lạc đạo:
Ta thấy, trước khi hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo, thì Trần Thái Tông người đặt nền móng tư tưởng cho Thiền phái Trúc Lâm, đã chọn bản kinh Kim Cương và kinh Kim Cương tam muội chú giải để làm cơ sở lý luận biện tâm, thực thi đời sống hướng nội trước một bối cảnh lịch sử cả dân tộc ra sức chấn hưng đất nước. Theo nguyên lý duyên khởi của tư tưởng Hoa Nghiêm, Bát Nhã, Viên Giác thì bản thân từng cá thể không thể tự tồn tại độc lập mà không có sự liên hệ khác xung quanh con người, nhất là giai đoạn cả nước đang xây dựng và phát triển trên mọi lĩnh vực thì lại càng có nhiều mối liên hệ để giải quyết và xử lý. Vì vậy, các thành viên Thiền phái chủ trương bổ sung thêm một số quan điểm được đúc kết từ các bản kinh Đại thừa nói trên để làm cơ sở lý luận tạo tiền đề hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo phục vụ cho đường lối hoạt động Thiền phái, góp phần xây dựng phát triển đất nước:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên.
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.” (Cư trần vui đạo hãy tùy duyên, Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền.
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm, Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.) (5) Thực tế, vào những năm trước và sau triều Lý tức là 1009, 1020, 1034, 1295 các bản Kinh Đại thừa đã được truyền vào nước ta và mãi đến năm 1295 vua Trần mới cho khắc in rộng rãi. Phật giáo thời Lý Trần hưng thịnh với việc các vua đứng ra lập thêm Thiền phái. Lý Thánh Tông lập ra phái Thảo Đường với chủ trương tùy tục. Trần Nhân Tông lập ra phái Trúc Lâm không chỉ chủ trương tùy tục mà còn nhập thế tích cực(6). Điều đáng nói là không như các Thiền phái Trung Hoa chủ trương bất lập văn tự, Thiền phái Trúc Lâm vẫn lấy việc nghiên cứu, học tập kinh điển để làm cơ sở y cứ việc hành trì chứng ngộ. Đọc lại toàn bộ văn bản của Thiền phái Trúc Lâm, chúng ta sẽ thấy những bản kinh như Kim Cương, Kim Cương tam muội chú giải, Lăng Nghiêm, Bát Nhã, Hoa Nghiêm được xem là cơ sở lý luận để hình thành nên chủ thuyết Cư trần lạc đạo và chi phối toàn bộ tư tưởng Thiền phái. Bằng cách này hay cách khác, các thiền gia, thiền sư đã tham cứu, giảng thuyết đạo lý thiền trên cơ sở Thiền - Giáo song hành.  Trước đó, Trần Thái Tông đã y cứ vào kinh điển Đại thừa, nhất là Kinh Kim Cương và Kim Cương tam muội chú giải để làm cơ sở giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn đang xảy ra trước cuộc sống. Tuệ Trung đã y cứ kinh Bát Nhã, Hoa Nghiêm diễn giải quan điểm tùy tục của Thường Chiếu thành Hòa quang đồng trần để chấn hưng đất nước và đạo pháp. Con người cần quay về sống thực tại bây giờ và tại đây. Như vậy, thực tại vốn vô thường, huyễn ảo biến dịch theo tư duy phân biệt của con người. Dù Phật giáo tuyên bố thực tại là Không, Không trong nghĩa không phân biệt, không có sự tham dự của luận lý, của các thức, chứ không phải là hư vô, trống rỗng; cái thực tại này được kinh Lăng Già xác nhận “Thế giới của hư ngụy này chính là thường hằng, chính là chân lý”.  Kinh nghiệm cho thấy, thể chứng thực tại một cách trọn vẹn khi nào tâm thức bước ra khỏi vòng luẩn quẩn phân biệt “nhị kiến” để an nhiên tự tại mà Trần Nhân Tông tâm đắc trong Thượng sĩ hành trạng “Ta trộn lẫn cùng thế tục, hòa cùng ánh sáng, đối với mọi vật chưa từng xúc phạm hay trái ngược”. Trong hội thứ nhất, ông khẳng định rõ:
“Mình ngồi thành thị;
Nết dụng sơn lâm,
Muôn nghiệp an nhàn lặng an nhàn thể tính;
Nửa ngày rồi tự tại thân tâm”(7)
Thực tại ấy lừng lựng ra đấy, từ xưa đến
nay, phô bày mọi nơi, mọi lúc mà Trần Nhân
Tông cho là tùy duyên mà vui với đạo trong
Cư Trần lạc đạo phú. Thể chứng thực tại là
thể chứng Phật tâm, là tự tại giải thoát Niết
bàn ngay giữa dòng đời, đúng như tinh thần
Hòa quang đồng trần của Tuệ Trung:
“Cơ tắc xan hề hòa la phạn, Khốn tắc miên hề hà hữu hương.  Hứng thời xuy hề vô khổng địch, Tĩnh xứ phần hề giải thoát hương”.  (Đói thì ăn chừ, cơm tùy ý, Mệt thì ăn chừ, làng không làng Hứng lên chừ, thổi sáo không lỗ, Lắng xuống chừ, đốt giải thoát hương) (8) Do đó, chúng ta chẳng có gì ngạc nhiên khi Trần Nhân Tông viết “Cư trần lạc đạo phú” và “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca” và các tác phẩm khác nữa, trong đó giá trị lý luận “Cư trần lạc đạo” trở thành hệ tư tưởng chính cho Thiền phái Trúc Lâm hoạt động trong một bối cảnh lịch sử nước ta luôn phải đối diện các cuộc chiến tranh vệ quốc vừa xảy ra.  Không chỉ ba lần quân dân ta chiến thắng quân Nguyên Mông mà đến thế kỷ thứ XVIII với những chiến thắng Ngọc Hồi, Đống Đa oanh liệt của quân dân Tây Sơn, trong đó nổi bật những gương mặt Phật tử tự nhận mình là người thừa kế truyền thống Trúc Lâm như Thượng thư Tỉnh Phái Hầu Ngô Thì Nhậm - thiền sư Hải Lượng, Hương Lĩnh Bá, tiến sĩ Nguyễn Đăng Sở là thiền sư Hải Âu… (9).  Theo Đoàn Thị Thu Vân trong bài Tuệ Trung Thượng sĩ và Thiền phong đời Trần (10) thì tinh thần bài kệ cũng là tôn chỉ của Sơ Tổ và là tư tưởng nhất quán của Thiền phái được thể hiện qua bốn điểm: 1. Hãy nên sống hòa mình với đời, không câu chấp. 2. Hành động tùy duyên, tức là làm việc cần làm, đúng lúc phải làm và không trái quy luật tự nhiên. 3.  Tự tin vào mình, trở về khơi dậy tiềm lực của chính mình, không tìm cầu tha lực. 4. Không nô lệ vào bất cứ cái gì, dù Thiền hay Phật”.  Để được như vậy, các nhà tư tưởng Thiền phái đã có cả quá trình hoạt động và đúc kết từ thực tiễn trong tiến trình hình thành tư tưởng Cư trần lạc đạo đi từ tùy tục của Thường Chiếu, rồi đến biện tâm của Trần Thái Tông chuyển qua hòa quang đồng trần của Thượng sĩ sau cùng là tùy duyên lạc đạo của Trần Nhân Tông.
Thực tế, cuối đời Lý đầu Trần, nước ta phải đối diện các vấn đề khủng hoảng khiến thiền sư Đạo Huệ than “Loạn lạc tứ tung do tham ái mà tới” (11). Những người có ưu tư đối với tiền đồ Dân tộc và Phật giáo như Trí Bảo, Tín Học, Trí Nhàn đã đưa ra biện pháp kêu gọi mọi người đừng để lợi nhiễm cuốn hút vào cơn lốc tham ái. Ái là nói lên khuynh hướng mang tính cá nhân chủ động. Còn nhiễm nói đến sự tương tác giữa cá nhân và tập thể mà đôi khi bản thân không làm chủ được dẫn đến tệ nạn tham nhũng mang tính hệ thống. Biện pháp giải quyết là kêu gọi “Có lợi có nhiễm thì Bồ tát không làm; không lợi, không nhiễm thì Bồ tát làm” (12) nhằm cứu vãn khủng hoảng.  Các thiền sư giai đoạn này đã có ý thức đi tìm một hướng đi mới cho Phật giáo. Kết quả, Thiền phái Thảo Đường, Trúc Lâm ra đời, giới xuất gia không còn đóng khung hoạt động trong ngôi chùa, họ cũng kết hợp với Phật tử tham gia công tác xã hội. Cuộc sống của giới xuất gia từ đây nặng tính thế tục. Chủ trương tùy tục hình thành và đi vào đời sống thực tiễn.  Ta thấy ngay trong hội thứ hai, Trần Nhân Tông kêu gọi thực thi đạo đức bỏ xan tham, đừng có cầu danh, sống cuộc sống giản dị, tiết kiệm để đối trị tham nhũng:
“Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu viên giác”, hay “Cầm giới hạnh, địch vô thường, nào có sá cầu danh bán chác; Ăn rau trái, nghiệp miệng chẳng hiềm thửa đắng cay” (Hội thứ hai) (13).
Sống trong một xã hội loạn ly, vào những năm tháng cuối đời Lý, đầu đời Trần, giới Phật giáo phải ý thức về mình để có thái độ sống biết giữ đạo và gánh vác việc đời. Quan điểm của ông là phải tùy tục. Tùy tục là sống theo với đời mà vẫn giác ngộ. Điểm này, trước đó Trường Nguyên cũng bàn đến với khái niệm Tại quang tại trần, nhưng lý do vì sao thì Trường Nguyên không phát biểu rõ. Và Thường Chiếu đã bổ sung bằng cách diễn đạt khá rõ với quan điểm tùy tục khi người học trò hỏi về pháp thân “Tại thế vi nhân thân;
Tâm vi Như Lai tạng. Chiếu diệu thả vô phương;
Tầm chi cánh tuyệt khoáng.” (Ở thế là nhân thân; Tâm là Như Lai tạng. Chiếu dọi khắp muôn phương; Nếu tìm không thấy bóng.) (14).  Pháp thân hay tự tính giác ngộ được Thường Chiếu gọi là Như Lai tạng thì tồn tại khắp nơi. Có điều, con người tồn tại qua xác thân ngũ uẩn, việc xác lập xác thân trở nên quan trọng đối với ông. Trần Thái Tông sau này cũng chú trọng vấn đề sắc thân khi đi tìm sự giác ngộ. Quan điểm này có được là do Thường Chiếu và các nhà tư tưởng Thiền phái đã biết y cứ vào tư tưởng Đại phương quảng Hoa Nghiêm kinh số 52 ĐTK 279 tờ 275b 17-18 “Một là tất cả, tất cả là một” để làm cơ sở lý luận, nhất là vận dụng vào đời sống, thực thi công việc hộ nước an dân: “Như một lỗ chân lông mà biểu hiện đủ pháp giới thì tất cả lỗ chân lông đều như thế. Nên biết tâm không thì không một kẽ hở nào không là thân Phật” (15). Vậy, pháp thân chính là Phật thân, là thân sinh diệt của con người. Đây là điểm mới của Thường Chiếu và Trần Nhân Tông muốn khẳng định “Bụt ở trong nhà; chẳng phải tìm xa; Nhân khuấy bản nên ta tìm Bụt; Đến cốc hay Bụt chỉn là ta” (Hội thứ năm) (16). Con người có thể giác ngộ ngay trong đời sống thường nhật của chính mình.
Khi đề ra chủ trương tùy tục, ngoài việc y cứ nhiều bản kinh Đại thừa, rõ nét nhất vẫn là Hoa Nghiêm, Thường Chiếu và sau này Tuệ Trung, Thái Tông và Trần Nhân Tông còn thừa hưởng cả một quá trình chuẩn bị của hai dòng thiền Pháp Vân và Kiến Sơ như là xu thế phát triển tất yếu của tư tưởng Phật giáo Việt Nam trong dòng chảy lịch sử của dân tộc. Một xu thế Phật giáo mới mà mỗi lúc càng nhấn mạnh rõ nét vai trò của xác thân hiện hữu trong quá trình đi tìm sự giác ngộ, hay nói cách khác là không thể giác ngộ nếu từ bỏ xác thân con người. Chân lý chỉ hiện khởi cho bất cứ ai tìm thấy trong đời sống thực, chứ không ở đâu xa cả. Và như thế, dù tăng hay tục ở trong chùa hay ngoài xã hội đều có thể ngộ đạo.  Điều này cung cấp một cơ sở lý luận mới cho một nền Phật giáo mới đang hình thành với chủ thuyết Cư trần lạc đạo mà Trần Nhân Tông đề xướng. Trước mắt, chủ trương tùy tục được những người kế thừa dòng thiền của Thường Chiếu hầu hết là cư sĩ như Thông Thiền, qua Tức Lự, lại gặp Ứng Thuận, từ Ứng Thuận qua Tiêu Diêu, lại gặp Tuệ Trung kể cả các vua đầu nhà Trần vận dụng để thoát cảnh phân ly và đánh tan đế chế Nguyên Mông ra khỏi đất nước. Trong đó, Tuệ Trung là người có sự đóng góp lớn cho đất nước qua hai cuộc chiến chống quân Nguyên Mông và cũng là người truyền tâm ấn cho Sơ Tổ Trúc Lâm. Và Trần Nhân Tông triển khai chủ thuyết Cư trần lạc đạo làm tư tưởng chính cho cả Thiền phái hoạt động.
Rõ ràng, Phật giáo là cuộc sống, không có sự phân biệt bất cứ thành phần nào trong xã hội. Phật giáo là gì, chính là quá trình đi tìm chân lý. Chân lý thì không nằm trong Phật giáo mà nằm trong cuộc sống. Từ đây, chúng ta không ngạc nhiên gì khi Trần Nhân Tông xây dựng chủ thuyết Cư trần lạc đạo để làm tôn chỉ hoạt động Thiền phái. Thông qua bài phú Cư trần lạc đạo, tư tưởng ở đời mà vui với đạo, càng làm sáng tỏ tinh thần tùy duyên để con người an trú với đạo. Ngay câu mở đầu của hội thứ nhất, Sơ Tổ đã cho biết phạm trù đời và đạo được xác định theo quan điểm mới mà các Thiền phái Trung Hoa chưa từng đề cập “Mình ngồi thành thị, nết dụng sơn lâm”.  Ta có thể hiểu đời là thành thị, đạo là là sơn lâm. Tuy vậy, cuộc sống thực tiễn cho thấy, một người dù ở thành thị gánh vác bao nhiêu việc đời, song họ biết xử lý công việc với lòng trong sạch chẳng khác gì ở núi rừng. Đây chính là quan điểm “chẳng phải đại ẩn, tiểu ẩn, không phân biệt tại gia, xuất gia” như Trần Thái Tông đề xuất trong Thiền tông chỉ nam tự. Xưa nay, mọi người đều biết đại ẩn chính là sống ở thành thị nhộn nhịp mà giữ lòng trong sáng, còn tiểu ẩn là sống ở núi rừng để trau dồi bản thân đến chỗ hoàn thiện. Người Phật tử Đại Việt thời Trần chỉ tùy duyên, tùy thuận vào mối liên hệ phân công của xã hội theo khả năng của mình mà thể hiện đời sống đạo bằng cách:
“Dứt trừ nhân ngã, thì ra thực tướng Kim cương;
Dừng hết tham sân mới lảu lòng mầu Viên giác” (Hội thứ hai).
Thế nên, Thái Tông đã thực thi lời khuyên của Quốc sư Phù Vân mà đạt được được sự giác ngộ. Từ đó, Trần Nhân Tông cho rằng không phải đến núi Cánh Diều của Yên Tử hay tại am Sạn của Đông Sơn mà có sự giác ngộ:
“Áng tư tài tính sáng chẳng tham, há vì ở Cánh Diều Yên Tử Răn thanh sắc niềm dừng chẳng chuyển, lọ chi ngồi am Sạn non Đông” (17) Những danh lam thắng cảnh ấy như Cánh Diều Yên Tử và am Sạn non Đông chỉ là nơi con người quy hướng, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của non sông mà tu tâm dưỡng tính, như Huyền Quang đã họa trong bài Vịnh Vân Yên tự phú:
“Ngồi đỉnh Vân Tiêu; Cưỡi chơi Cánh Diều.  Coi Đông Sơn tựa hòn kim lục; Xem Đông Hải tựa miệng con ngao”(18).
Sự giác ngộ hiện hữu ngay giữa đời. Tuy nhiên, Nhân Tông không cực đoan phủ nhận cuộc sống thanh tịnh của rừng núi, chính vua đã nhiều lần vào núi Yên Tử, Vũ Lâm để an trú tâm thức mà ta thấy được trong Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca: “Vượn mừng hủ hỷ;
Làm bạn cùng ta. Vắng vẻ ngàn kia; Thân lòng hỷ xả” (19).
Như vậy, vấn đề quan trọng không phải là sống ở thành thị hay núi rừng mà giác ngộ, nhất là ở giữa cuộc đời trần tục giác ngộ mới đáng thật tự hào. Chính bản thân Trần Nhân Tông là một người tìm thấy giác ngộ ngay những ngày với cương vị nhà lãnh đạo tối cao đang ráo riết chuẩn bị đối phó cuộc chiến tranh do Hốt Tất Liệt tiến hành vào năm 1287 và nhất là rơi vào thời điểm khi mẹ vua Nhân Tông mất như sử liệu ghi (20). Rõ ràng, giữa bao nhiêu biến động và phiền lụy của cuộc đời, con người vẫn có thể chuyển hóa thân tâm “muôn nghiệp lặng, an nhàn thể tính” chẳng khác nào Pháp Loa nói trong bài kệ Thị tịch.  Khi con người cắt đứt vạn duyên hão huyền, tức là đoạn tận các nghiệp để chấm dứt hệ lụy:
“Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn, Tứ thập dư niên mộng ảo gian.
Trân trọng chư nhân hưu tá văn,
Ná biên phong nguyệt cánh hoàn khoan.” (Một thân nhàn nhã dứt muôn duyên, Hơn bốn mươi năm những hão huyền.  Nhân bảo các người đừng gạn hỏi, Bên kia trăng gió rộng vô biên) (21) Phật luôn hóa hiện giữa đời, mỗi người chỉ cần đoạn xan tham, sống đạo đức nhân nghĩa với người khác thì ai cũng là Phật Thích Ca, Phật Di Lặc. Đây là giá trị thiết thực mà tư tưởng Cư trần lạc đạo đem lại:
“Tích nhân nghì, tu đạo đức, ai hay này chẳng Thích Ca, Cầm giới hạnh, đoạn ghen tham, chỉn thực ấy là Di Lặc” (22) Phật giáo dưới thời Trúc Lâm là thế. Người Phật tử có thể sống và trở thành những vị Phật như Thích Ca và Di Lặc. Chính tư tưởng này mới tác động vào tâm thức mọi người với mọi khả năng tự tin, đầy bản lĩnh sáng tạo để cống hiến. Đây chính là tinh thần nhập thế tích cực mà Thiền phái đã thành tựu.
2.2.      Tinh thần nhập thế:
Tinh thần nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm trở thành một trong những đặc trưng nổi bật của Thiền tông Việt Nam khi nhìn nhận nó trong dòng chảy lịch sử nước nhà. Trong bài viết “Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị sáng Tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm”, Mạn Đà La phát biểu “Tinh thần của Thiền học Trúc Lâm là thiền học dân tộc, nghĩa là một mặt không ngừng phát triển tận cùng khả năng giác ngộ giải thoát để vươn lên đỉnh cao của con người: giác ngộ giải thoát hoàn toàn; mặt khác, không ngừng tích cực, xây dựng an lành cho chúng sinh bằng cách trước hết phục vụ đất nước, dân tộc những người gần mình và có ân nghĩa đối với cuộc sống của mình” ”(23) Thiền phái Trúc Lâm đã nhập thế cùng dân tộc trong sự nghiệp phát triển đất nước. Thực ra, tinh thần nhập thế đã có từ thời Mâu Tử khi đạo Phật mới du nhập, nhưng phải đến Phật giáo đời Trần với Thiền phái Trúc Lâm thì tinh thần nhập thế mới được phát huy cao độ. Nó không chỉ tạo ra bản sắc Thiền tông Đại Việt mà còn tác động mạnh mẽ vào đời sống chính trị văn hóa xã hội nước nhà. Việc định hướng bảo vệ chủ quyền dân tộc, mở rộng biên cương, chấn hưng văn hóa Đại Việt của nhà Trần đều mang dấu ấn quan điểm Phật giáo, nhất là tư tưởng tùy duyên mà vui với đạo của Thiền phái. Sự thành công của nhà Trần là có các ông vua lãnh đạo đất nước biết vận dụng tư tưởng Cư trần lạc đạo để huy động sức mạnh đoàn kết toàn dân. Tiềm lực dân tộc trước hết nằm ở lòng yêu nước của toàn dân để xây dựng Đại Việt thành một quốc gia hùng cường mà không có một thế lực nào ngăn cản được.
Với tinh thần “tùy duyên bất biến, bất biến mà tùy duyên”của kinh Hoa Nghiêm, nó đã quy định tính chất nhập thế của Thiền phái.  Tuy nhiên, có ý kiến khái niệm nhập thế không phải là thuật ngữ chỉ dành cho Nho giáo - một hệ thống triết học mang tính thực tiễn chính trị và luân lý đạo đức rất cao…, khái niệm nhập thế này nhằm phân biệt với khuynh hướng xuất thế của triết học Lão Trang (24).  Thiển ý của chúng tôi, cả hai khái niệm nhập thế của Nho giáo và xuất thế của Lão giáo mà tác giả này đề cập càng không thể đánh đồng với khái niệm nhập thế và xuất thế mà Phật giáo quy định. Khái niệm nhập thế đã được Phật định hình từ lâu theo tinh thần “Này các Tỳ kheo, hãy du hành, vì hạnh phúc cho quần sinh, vì an lạc cho quần sinh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài người” (25). Và các đệ tử của Phật từ xưa đến nay đã đi từ thành thị đến nông thôn để làm lợi cho đời.  Xét cho cùng, khái niệm xuất thế của đạo Phật thì mang ý nghĩa nhập thế mà Phật đã vạch định. Bài văn Cảnh sách của Quy Sơn (771 – 853) rất phổ biến trong các Thiền đường Việt Nam đã nêu khái niệm xuất thế khá rõ “Phù xuất gia giả phát túc siêu phương, tâm hình dị tục, thiệu long thánh chủng, chấn nhiếp ma quân, dụng báo tứ ân, bạt tế tam hữu” (Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma phái rúng động, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi” (26).
Phật giáo Đại Việt với nền Phật giáo thế sự, lấy chủ trương tùy tục để nhập thế. Thông Thiền đệ tử Thường Chiếu đề xuất khái niệm xuất thế được xác lập theo tinh thần duyên sinh vô ngã “Chỉ xem ngũ uẩn đều không, tứ đại vô ngã, chân tâm không tướng, không đến không đi, khi sinh tính không đến, khi chết chẳng đi, yên tỉnh viên tịch, tâm cảnh như một.  Phải hiểu được như vậy mới chóng đốn ngộ, không bị ba đời ràng buộc. Như thế, người xuất thế, tất thảy các điều ấy không thể tách rời nhau” (27).
Quy định nội dung xuất thế như thế, con người không nhất thiết xuống tóc xuất gia, chỉ cần ngộ cái lý năm uẩn là không, chân tâm không tướng… thể nhập đời trong mối tương quan mà có thái độ sống thích hợp, cống hiến cho đời là cho đạo. Huống nữa, Thiền phái còn y cứ kinh Pháp Hoa làm cơ sở lý luận cho việc nhập thế, thì quan điểm Phật giáo đi vào đời đã trở thành nét đặc trưng với lời dạy nổi tiếng về nhiệm vụ của một vị Phật “khai thị ngộ nhập Phật tri kiến cho chúng sinh”. Và quan điểm vào đời ấy tùy thời, tùy yêu cầu từng giai đoạn của lịch sử giao phó mà Phật giáo tham gia đóng góp cho nước nhà. Đạo Phật nhập thế trở nên có một thế nhập lớn trong lòng dân tộc. Nó trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho đường lối Thiền phái hoạt động từ đó và sau này:
“Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc, Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thực cả đồ công” (Hội thứ ba) (28) Chính tư tưởng tu hành và giác ngộ ngay giữa trần tục đã hình thành nên mẫu người Phật tử biết đem đạo ứng dụng vào đời. Chính Trần Thái Tông là người sống trong thế giới sặc mùi danh lợi, thế mà ông vẫn giải thoát và lãnh đạo nhân dân ta thắng lợi cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất và cũng là người chủ trương đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm ra đời. Không chỉ Thái Tông mà một loạt thiền sư xuất gia, tại gia của giai đoạn này đều tích cực tham gia vào các hoạt động của đời sống kinh tế, chính trị của đất nước.  Họ có thể là nhà tư tưởng chiến lược, tướng cầm quân, nhà tri thức lớn, nhà thơ - văn, thầy thuốc tùy theo sự phân công và khả năng mà sẵn lòng tham gia cống hiến, sống đúng đạo lý như Trần Nhân Tông nói trong Cư Trần lạc đạo:
“Sạch giới lòng, chùi giới tướng, nội ngoại nên Bồ tát trang nghiêm, Ngay thờ chúa, thảo thờ cha, đi đỗ mới trượng phu trung hiếu.
Tham thiền kén bạn, nát thân mình mới khá hồi ân, Học đạo thờ thầy, dọt xương óc chưa thông của báo” (Hội thứ sáu) (29). Hình tượng này là tiêu biểu cho mẫu người Đại Việt thời đại Đông A nói chung, chứ không phải riêng gì cho Phật giáo. Những người làm nên sự nghiệp hào hùng của dân tộc ta vào thời này hầu hết là Phật tử. Điển hình cho mẫu người lý tưởng này là Tuệ Trung. Ông có thái độ sống nhập thế tích cực vì dân, vì nước chứ không vì sự giải thoát riêng mình. Ông trở thành vị tướng tài có công trong cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông, đồng thời cũng là thiền sư ngộ đạo thể hiện rõ sự tự tại, giải thoát. Tinh thần này khiến người ta sống tự tại, nhất là luôn ý thức làm những việc nên làm và không nên làm, có khi tạo ra những điều kỳ diệu cho nước nhà bất chấp mọi chướng duyên.
Vận dụng tinh thần nhập thế của Thiền phái, Trần Thánh Tông cùng Trần Nhân Tông làm nên điều kỳ tích là lãnh đạo thành công hai cuộc chiến tranh vệ quốc xảy ra năm 1285 và 1287 khi xác định “Thiên hạ là thiên hạ của Tổ tông, người nối nghiệp của Tổ tông phải cùng hưởng ứng phú quý với anh em trong họ. Tuy bên ngoài có một người ở ngôi tôn, được cả thiên hạ phụng sự, nhưng bên trong thì ta với các khanh là đồng bào ruột thịt…” (30).  Quan điểm đoàn kết thân dân chỉ thực hiện được khi mọi người dân cùng chung một quyền lợi và nghĩa vụ với người lãnh đạo đất nước.  Trần Hưng Đạo viết Hịch tướng sĩ để cụ thể hóa vấn đề đó với toàn bộ tướng tá binh sĩ dưới trướng của mình. Còn Trần Nhân Tông thì với chủ thuyết Cư trần lạc đạo, hướng đến việc xây dựng mẫu người Phật tử nhằm bảo vệ độc lập và chấn hưng đất nước. Mỗi khi sự tồn tại quyền lợi của người này là điều kiện nhân tố cho quyền lợi người kia thì tất cả đồng phát triển. Từ đó, mọi người dân hiểu yêu nước là yêu đạo; yêu gia đình là yêu cha mẹ, bà con, yêu mối tình vợ chồng, con cái trẻ thơ; yêu mộ phần tổ tiên là yêu hồn thiêng sông nước.
Vì vậy, Thiền phái Trúc Lâm nhập thế tích cực hơn nữa. Sau thời kỳ Bắc thuộc, Đại Việt không ngừng vạch định chính sách phát triển đất nước bằng cách mở rộng bờ cõi. Nhà Lý đã sáp nhập ba châu Đại Lý, Ma Linh và Bố Chính, cùng với việc thành lập Thiền phái Thảo Đường. Đến đời Trần, yêu cầu phát triển kinh tế, phục hưng các giá trị văn hóa, việc gia tăng dân số trong thời bình trở nên vấn đề hàng đầu. Trước đó, Trần Thánh Tông đã cho phép các vương hầu, công chúa, phò mã, cung phi chiêu mộ dân nghèo các địa phương khai hoang, lập ấp nhằm đáp ứng việc gia tăng dân số mà Đại Việt sử ký toàn thư ghi rất rõ “ Tháng 10 (1266) xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tỳ để khai khẩn ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang.  Vương hầu có trang thực từ đấy.”(31). Sự phát triển đất nước sau chiến tranh khiến nhà Trần có chính sách lâu dài về vấn đề dân số, kéo theo vấn đề kinh tế, an ninh chính trị. Bốn năm sau, Trần Nhân Tông tiếp tục sự nghiệp Nam tiến của cha mình là sáp nhập hai châu Ô Mã và Việt Lý (Bình Trị Thiên ngày nay) vào bản đồ Đại Việt. Từ đây, Đại Việt không chỉ giải quyết được vấn đề áp lực gia tăng dân số mà còn thiết lập được một nền an ninh vững mạnh. Về mặt lý luận, với Phật quan Bụt ở trong lòng (Hội thứ năm) tạo ra sự bình đẳng về con người giải thoát, bình đẳng về quyền lợi xã hội và khi đi vào hoạt động thực tiễn với tinh thần nhập thế, nó đã tác động mạnh mẽ trong công cuộc Nam tiến của dân tộc. Vào năm 1470, vua Lê Thánh Tông đã cắm cột mốc phía Nam của Tổ quốc trên núi Đá Bia ở Phú Yên, đến triều Nguyễn thì cuộc Nam tiến mở mang bờ cõi của dân tộc mới hoàn thành.
Hơn nữa, công cuộc chấn hưng đất nước đòi hỏi phải thực hiện việc tái thiết các công trình văn hóa bị kẻ thù tàn phá. Dưới tác động của chủ trương xây dựng mẫu người Phật tử lý tưởng, người dân đã tích cực tái thiết. Trong Cư trần lạc phú, Trần Nhân Tông nói rõ việc tái thiết quốc gia đó thật là sinh động: “Dựng cầu đò, giồi chiền tháp, ngoại trang nghiêm sự tướng hãy tu” (Hội thứ tám) (32). Việc Trần Nhân Tông đem mười điều thiện dạy khắp đã phản ánh chính sách dùng Chánh pháp để an dân mà trước đó hơn một nghìn năm đã được ghi vào kinh Lục độ tập. Một bản kinh được Phật giáo nước ta vận dụng nhuần nhuyễn phù hợp với đạo lý truyền thống. Nó được các nhà lãnh đạo quốc gia dùng làm “pháp luật quốc gia” nhằm đem lại sự bình an cho xã hội với mục đích “Rèn lòng làm Bụt, chỉn xá tua một sức dồi mài; Đãi cát kén vàng, còn lại nhiều phen lựa lọc” (Hội thứ tám).
Do đó, Trần Nhân Tông khuyến cáo người dân hãy tinh tấn rèn lòng làm Bụt như là sự thăng tiến đạo đức bằng nhiều phương thức để giác ngộ. Có thể thực thi hành thiền bằng thoại đầu theo lối thiền của thiền sư Nam Tuyên Phổ Nguyện, hoặc theo cách Tử Hồ Lợi Tung đuổi chó… vv “Vương lão chém mèo, lạt trẩy lòng ngựa thủ toạ;
Thầy Hồ khua cho, trỏ xem trí nhẹ con giàng” (Hội thứ chín) (33). Và còn nhiều phương thức khác nữa mà Trần Nhân Tông đã dành cả hội thứ chín để trình bày từ thời Sơ Tổ Đạt Ma gặp vua Lương Vũ Đế nhà Lương cho đến thiền sư Linh Vân Chí Cẩn khi thấy hoa đào nở rộ mà giác ngộ, đại sư Hương Nghiêm khi cuốc đất, hòn đá văng vào cây trúc mà hiểu đạo. Cho nên Trần Nhân Tông nói cách thức giác ngộ có khác nhau, nhưng chân lý là một:
“Vậy cho hay:
Cơ quan tổ giáo;
Tuy khác nhau nhiều đàng,
Chẳng mấy tấc gang” (Hội thứ chín) (34).  Sống ở đời mà vui với đạo theo vua Trần Nhân Tông là cuộc sống thiền. Đã là thiền là tuỳ duyên, tuỳ căn, tuỳ thời mà sống với đạo.  Đó là tìm sự giác ngộ ngay giữa đời thường mà tích cực đóng góp cho đời cho đạo:
“Tượng chúng ấy,
Cốc một chân không;
Dùng đòi căn khí.
Nhân lòng ta vướng chấp khôn thông:
Há cơ tổ nay còn thửa bí.
Chúng Tiểu thừa cốc hay chửa đến, Bụt xá ngăn Bảo sở hoá thành;
Đấng Thượng sĩ chứng thực mà nên, ai ghẽ có sơn lâm thành thị”. (Hội thứ10) (35) Vậy là Thiền phái Trúc Lâm với tinh thần nhập thế đã góp phần giải quyết một loạt vấn đề đặt ra cho Phật giáo Đại Việt, đáp ứng các nhu cầu đòi hỏi của dân tộc. Sau thời Trần Nhân Tông, Phật giáo còn tích cực nhập thế với những nhiệm vụ mới mà lịch sử giao phó.
3.         Giá trị ngôn ngữ - Ý thức tự chủ trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Kể từ khi truyền bản của thiền sư Chân Nguyên được ni cô Diệu Liên ấn bản lưu hành vào năm 1745, đến nay đã hơn ba thế kỷ, Cư trần lạc đạo phú đã được in và tái bản nhiều lần qua nhiều triều đại, thời đại khác nhau.  Điều đó, nó có sức hấp dẫn với người đọc và giới nghiên cứu không chỉ về mặt lý luận tư tưởng thiền học mà còn đề cao việc ý thức tự chủ sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt của cha ông ta ngày xưa để chống lại văn hoá ngoại lai Hán tộc. Ta cũng thấy, vào thời Lê Sơ và thời Mạc, Phật giáo phục hưng trong phong trào dân tộc hoá với việc dịch kinh sách ra tiếng Việt như Đại báo phụ mẫu ân trọng kinh của thiền sư Viên Thái, việc in lại các tác phẩm sử học Phật giáo như Nam tông tự pháp đồ của trạng nguyên Lương Thế Vinh, Thánh đăng ngữ lục của thiền sư Chân Nguyên và việc cổ xuý dùng tiếng Việt của thiền sư Pháp Tính trong Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa.  Trong một bối cảnh đất nước độc lập tự chủ trên mọi lĩnh vực, việc vua Trần Nhân tông đề cao việc sử dụng tiếng Việt là nhằm muốn thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc. Sự xuất hiện và tồn tại ngôn ngữ tiếng Việt qua việc sáng tác các tác phẩm bằng chữ Nôm là sự minh chứng cụ thể. Thật là vinh dự cho một nền văn học tiếng Việt nước ta được bắt đầu bằng một ngòi bút của vị anh hùng dân tộc đã có những tác phẩm thể hiện văn hoá của dân tộc, chứ không chỉ riêng Phật giáo mà Cư trần lạc đạo phú là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất.
Cư trần lạc đạo phú là một tác phẩm thuộc thể loại phú tiếp thu từ thể loại văn học Trung Hoa. Lưu hiệp trong Văn tâm điêu long đã viết Phú giả, phô dã” (Phú chính là trình bày). Do đó, đặc trưng của thể phú là trình bày cái đẹp, lời văn trong phú lấy sự vật để nói cái chí. Một trong những thuộc tính sớm được xác định của thể phú là “tả chí” (36). Cái “chí” ở đây được Đặng Thai Mai giải thích trong “Thi ngôn chí”, đó là “Ta nên hiểu chữ “chí” ở đây là “tâm” của kẻ sĩ. Cho nên “chí” không chỉ có phần nghị lực, phần ý chí mà thôi, mà nó có phần tâm tình kẻ sĩ nữa” (37). Phú ở Trung Hoa và Việt Nam đều được hiểu trong tinh thần đó.  Ở Việt Nam, phú xuất hiện từ đời Trần, đời Lý cổ sử có đề cập đến nhưng cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm được những bài phú này. Gần đây, Tổng tập Văn học Việt Nam giới thiệu thêm một vài bài phú chữ Hán đời Trần, mà trước đó đã công bố 13 bài đã in trong Quần hiền phú tập, có lúc được gọi là Phú đời Trần - Hồ (38). Các bài phú này đều ca ngợi tư tưởng, thể hiện tấm lòng của kẻ sĩ đối với đất nước, đối với triều đại trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhưng điểm nổi bật của bài Cư trần lạc đạo phú được viết bằng chữ Nôm đầu tiên của nước ta, thuộc lại văn học chủ đề, là bản văn chính luận tập trung trình bày một số vấn đề tư tưởng và lý luận khá phức tạp. Thế mà Trần Nhân Tông chủ động dùng chữ Nôm, ngôn ngữ tiếng Việt để phát biểu, diễn đạt những tư tưởng tương đối khó nắm bắt, nhất là triết lý Phật giáo để mọi người đều dễ hiểu trong một thể loại phú, chứng tỏ ngôn ngữ tiếng Việt bấy giờ đã đủ khả năng chuyển tải bất cứ nội dung tư tưởng khác nhau với nét đẹp riêng của nó. Tiếng Việt trở thành một ngôn ngữ của văn học. Đây chính là cống hiến của tác phẩm Cư trần lạc đạo phú, làm tiền đề cho các tác phẩm chữ Nôm khác ra đời trong dòng chảy của văn học Trung đại nước ta nói chung, văn học Phật giáo noí riêng.
Thực tế, không phải ngẫu nhiên mà chữ Nôm, ngôn ngữ tiếng Việt được sử dụng trên văn đàn vào thế kỷ thứ XIII như Cư trần lạc đạo phú, Đắc thú lâm thành đạo ca của Trần Nhân Tông, Vịnh Vân Yên tự phú của Huyền Quang, Giáo tỷ phú tương truyền của Mạc Đĩnh Chi mà cả quá trình thai nghén tích luỹ từ lâu. Ngay cả các ngôn ngữ các nước khác cũng đều trải qua quá trình hình thành và tích luỹ như thế. Tiếng Việt ta để có những tác phẩm trụ vững trên văn đàn phải có sự tích luỹ từng mẫu chữ, từng tiếng ghi lại những tên tuổi xin cúng vái ở trong chùa, hay việc mô tả những điều mắt thấy tai nghe trong cuộc sống đời thường cho đến việc trải qua quá trình kết tụ lâu dài từ bài Việt ca đầu tiên được biết, rồi các chuyện trong Lục độ tập kinh và Tạp thí dụ kinh, hoặc bài Giáo trò tương truyền của Từ Đạo Hạnh mà giới nghiên cứu gần đây đã lưu tâm bước đầu tìm hiểu.  Để hình thành các phẩm chữ Nôm, mà Cư trần lạc đạo phú là thí dụ điển hình, Trần Nhân Tông trong vai trò là vị vua, Thái thượng hoàng, Tổ sư phái Thiền đã thay mặt nhân dân và Phật giáo khẳng định ý thức tự chủ độc lập của dân tộc không chỉ trên địa hạt biên cương lãnh thổ mà trên cả địa hạt văn hoá ngôn ngữ nhằm chống lại sự đồng hoá ngôn ngữ Hán tộc. Ngôn ngữ còn là dân tộc còn và nó có đủ khả năng thể hiện dân tộc tính mạnh nhất. Sự xuất hiện bài phú Cư trần lạc đạo phú và các tác phẩm chữ Nôm khác vào thế kỷ XIII giúp chúng ta khẳng định tiếng Việt đã được xuất hiện trước đó từ lâu lắm rồi, ít nhất là nó cũng được sử dụng trong ngôn ngữ tiếp xúc đời thường. Đây là quá trình hình thành và phát triển khách quan của một bất kỳ ngôn ngữ nào, chứ không riêng gì ngôn ngữ tiếng Việt.
Khảo sát bài Cư trần lạc đạo phú, ta thấy toàn bài có 1688 từ, kể cả tên đầu đề, tên các hội và bài kệ kết thúc ở hội thứ mười. Trong đó, 1623 từ tiếng Việt dành cho số từ 10 hội, thì từ “lòng” chiếm 18 lần, “cho” chiếm 13 lần, “chẳng” chiếm 13 lần, “mới” chiếm 12 lần, “Bụt”chiếm 10 lần. Ngoài ra, chúng ta còn thấy xuất hiện rất nhiều danh từ tên riêng, tên chung được Việt hoá từ chữ Phạn như Thích Ca, Di Đà, Câu Chi, Diễn Nhã Đạt ca, Bát nhã, Bồ đề, Bồ tát, Đàn việt… Các tên điạ danh, tên người như Yên Tử, Cánh Diều, Hà Hữu, Hùng Nhĩ, Tân La, Thiên Trúc, Thiếu Lâm, Tào Khê, Thiếu Thất, Lư Lăng, Phá Táo, Thạch Đầu, Bí Ma, Thuyền Tử, Đạo Ngô, Thiều Dương, Triệu Lão, Thiên Cang, Thái Bạch cũng được xem như tiếng Việt. Các từ chuyên môn Phật học cũng được xuất hiện trong bài phú như bát phong, bát thức, cực lạc, đại thừa, tiểu thừa, hữu lậu, vô lậu, kim cương, lục căn, lục trần, lục tặc, tam độc, tam thân, tam tạng, tam huyền, tam yếu, tam nghiệp, tịnh độ, tái sinh, thái bình, trí tuệ, thượng sĩ, tri âm, tri thức, tri kiến, tri cơ, trượng phu, trưỡng lão, viên giác, vô thường, vô ngã, vô minh, vô sinh, vô tâm… cũng được Trần Nhân Tông mạnh dạn sử dụng đưa vào tác phẩm. Tất cả đủ minh chứng sức sáng tạo cũng như khả năng tiếp biến và làm giàu ngôn ngữ tiếng Việt của nhân dân ta, trong đó vua Trần Nhân Tông là người đầu tiên chủ trương thực thi hoá tiếng Việt vào đời sống văn học, thể hiện tư tưởng dân tộc trong vấn đề sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt.
4.         Kết luận
Giá trị nội dung của tác phẩm “Cư trần lạc đạo phú” là thế. Nó được đúc kết và hình thành chủ thuyết Cư trần lạc đạo là nhằm đáp ứng nhu cầu và sự thoả mãn các yêu cầu lý luận cho một giai đoạn Phật giáo mới. Một giai đoạn Phật giáo với sự hình thành và phát triển Thiền phái Trúc Lâm với chủ trương nhập thế tích cực hơn bao giờ hết để mọi người Phật tử vừa thực hiện nhiệm vụ vừa xây dựng một đời sống theo đạo lý Thiền tông, nhưng đồng thời họ cũng tham gia tích cực làm tròn trách nhiệm của một công dân có đạo đối với việc xây dựng và phát triển đất nước.  Hay nói rõ hơn, Cư trần lạc đạo phú, viết bằng chữ Nôm, sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt lần đầu tiên của Trần Nhân Tông được ra đời vào thế kỷ XIII là nhằm tạo một diện mạo mới, một sức sống mới cho Phật giáo Việt Nam bằng cách đưa các giá trị tư tưởng Thiền học của Thiền phái Trúc Lâm vào việc thực thi nhiệm vụ xây dựng và phát triển đất nước Đại Việt trở nên hùng cường trên nhiều lĩnh vực.  Trong đó, ta thấy có cả việc đề cao việc sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt mà Trần Nhân Tông chủ trương như là sự thể hiện ý thức tự chủ văn hoá của một dân tộc là điều tất nhiên.


Chú thích:
(1) Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH – HàNội, 1989, tr. 451 - 452
(2) Tam Tổ thực lục, (Thích Phước Sơn dịch và chú giải), Viện NCPH, 1995, tr. 20
(3) Lê Mạnh Thát, Kiến tính thành Phật lục, trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, Tu thư Vạn Hạnh, 1982, tr 72.
(4) Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP. HCM, 2000, tr. 272.
(5) Viện Văn học, Thơ văn Lý Trần, tập 2, Nxb KHXH – HàNội, 1989, tr. 510.
(6) Nguyễn Duy Hinh, Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH- Hà Nội, 1999, 306.
(7) Viện Văn học, Sdd, tr. 506
(8) Viện Văn học, Sđd, tr. 278 -280.
(9) Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP. HCM, 2000, tr. 272 - 273
(10) Viện Khoa học Xã hội, TTNCHN, Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2000, tr. 24.
(11) Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3, Nxb Tp. HCM, 2002, tr. 576.
(12) Sđd, tr 608.
(13) Viện Văn học, Sđd, tr. 505.
(14) Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb Văn học, 1990, tr. 150 -151.
(15) Sđd, 150 -151.
(16) Viên Văn học, Sđd, tr 506.
(17) Viện Văn học, Sđd, 506.
(18) Viện Văn học, Sđd, 711.
(19) Viện Văn học, Sđd, 533.
(20) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 59.
(21) Viện Văn học, Sđd, tr. 648.
(22) Viện Văn học, Sđd, tr. 506.
(23) Mạn Đà La, “Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị sáng Tổ sáng lập dòng thiền Trúc Lâm”, bản in roneo, 1987, tr 6.
(24) Trương Văn Chung, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1998, tr 163 -164.
(25) Tương Ưng Bộ kinh, 1, Thích Minh Châu dịch, Trường CCPHVN ấn bản, 1982, tr. 126
(26) Sa di giới và Sa di ni giới, Phần Cảnh sách, Trí Quang dịch, Nxb. TP. HCM, 1994, tr. 221.
(27) Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb Văn học, 1990, tr. 153
(28) Viện Văn học, Sđd, tr. 506.
(29) Viện Văn học, Sđd, tr. 507.
(30) Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb, Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1998, tr. 37.
(31) Sđd, tr. 36.
(32) Viện Văn học, Sđd, tr, 508.
(33) Viện Văn học, sđd, tr. 509. Xem thêm chú thích 67, tr. 528 Thơ Văn Lý Trần, tập 2.
(34) Viện Văn học, sđd, tr. 508.
(35) Viện Văn học, sđd, tr. 509
(36) Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Thuyên phú. Xem Chử Bân Kiệt, Trung Quốc cổ đại văn thể khái luận, BắcKinh Đại học xb xã,1990, tr. 69
(37) Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập 1, Nxb Văn hoá, 1984, tr 360
(38) Viện Văn học, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 5, 2005, tr 81.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.         Trương Văn Chung, Tư tưởng triết học của Thiền phái Trúc Lâm đời Trần, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nôi,
1998.
2.         Đại Việt sử ký toàn thư, tập 2, Viện KHXHVN, Nxb. KHXH, Hà Nội, 1998.
3.         Nguyễn Duy Hinh, Tư Tưởng Phật giáo Việt Nam, Nxb KHXH - Hà Nội, 1999.
4.         Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long, Thuyên phú. Xem Chử Bân Kiệt, Trung Quốc cổ đại văn thể khái luận, Bắc Kinh Đại học xb xã,1990.
5.         Mạn Đà La, “Tìm hiểu về Trần Nhân Tông, vị sáng Tổ sáng lập dòng Thiền Trúc Lâm”, bản in roneo, 1987.
6.         Sa di giới và Sa di ni giới, Phần Cảnh sách, Trí Quang dịch, Nxb. TP. HCM, 1994.
7.         Thiền Uyển tập anh, Ngô Đức Thọ dịch, Nxb Văn học, 1990.
8.         Tuyển tập Đặng Thai Mai, tập 1, Nxb Văn hoá, 1984.
9.         Tam Tổ thực lục, (Thích Phước Sơn dịch và chú giải), Viện NCPH, 1995.
10.       Lê Mạnh Thát, Kiến tính thành Phật lục, trong Chân Nguyên thiền sư toàn tập, Tu thư Vạn Hạnh, 1982.
11.       Lê Mạnh Thát, Toàn tập Trần Nhân Tông, Nxb TP. HCM, 2000.
12.       Viện Khoa học Xã hội - TTNCHN, Tuệ Trung Thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2000, tr. 24.
13.       Lê Mạnh Thát, Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 3, Nxb Tp. HCM, 2002.
14.       Tương Ưng Bộ kinh, tập 1, Thích Minh Châu dịch, Trường CCPHVN ấn bản, 1982.


                                                            Trần Lý Trai   

Những vết chân voi

28-02-2012
Muốn bảo tồn được nhân tính con người thì chúng ta cũng nên mở rộng lòng mình giúp cho con voi thật to có thể bước vào để dẫm lên tâm thức mình, đánh thức lương tri của mình, cọ xát thật mạnh vào con tim của mình, hầu giúp mình trở thành một con người đích thật, một con người biết nhìn vào sự bất hạnh của tất cả những sự hiện hữu biết hít thở, bằng con tim rướm máu của chính mình.
>Làm thế nào để đạt được sự Giải Thoát ?
Vài lời giới thiệu của người dịch:
            Đây là một trong số ba-mươi bài kinh trong tập Trung A Hàm do Christian Maes tuyển chọn để dịch thẳng từ tiếng Pa-li sang tiếng Pháp. Ba-mươi bài kinh này đã được đưa lên mạng Internet từ nhiều năm nay và vừa được xuất bản thành sách với tựa đề là Những Vết Chân Voi (Les Empreintes d’Eléphant, nxb ILV, 2012).
            Thật quả hết sức khó để dò tìm một vài chi tiết về tiểu sử của tác giả và dịch giả Christian Maes. Là một nhà sư phiêu bạt và ẩn dật, ông sinh vào năm nào thì cũng không được rõ. Một vài tư liệu cho biết ông từng là một kỹ sư thế nhưng đã từ bỏ nghề nghiệp rất sớm và chọn một cuộc sống phiêu bạt, chu du hết Nam Mỹ đến Trung Mỹ và khắp Á Châu.
            Ông đến với Phật Giáo vào năm 1974 khi viếng thăm Tích Lan và sau đó thì tu học trong một thiền viện tên là Dodanduwa Hermitage. Một thời gian sau thì người ta lại thấy ông xuất hiện  ở Phi Châu để tham gia vào các chương trình cứu trợ trên phần lục địa này của địa cầu. Sau đó thì ông lại quay về với nếp sống ẩn dật. Ông tu tập thiền Ânâpânasati (gần với phép tu tập Vipassana), thiền Zen, thiền Tây Tạng... và hiện ẩn cư trong một tu viện Tây Tạng tại Âu Châu. Một vài học giả Phật Giáo có tiếng như Patrick Carré và Jacques Brosses (qua đời năm 2008) và nhà sư Tây Tạng Pawo Rimpoché (qua đời năm 1991) có quen với ông và biết ông là một người rất uyên bác nên đã từng khuyến khích ông viết và dịch thuật. (Độc giả có thể đọc thêm một bài viết của ông tựa là « Làm Thế Nào Để Đạt Được Sự Giải Thoát » trên các trang nhà Phật giáo..
Kết tập Đạo Pháp lần thứ nhất
Sau buổi lễ hỏa táng Đức Phật Cồ-đàm và xá-lợi được phân phát xong thì vấn đề bảo tồn phương pháp tu tập và giáo lý - tức là dhamma-vinaya - của vị Thầy quá cố trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Bằng chứng không chối cãi được là có một vị tu hành mang tên là Thiện Hiền (Subhadda) tuyên bố rằng mình cảm thấy thật vui thích bởi vì Vị Thầy không còn nữa để từ nay sẽ không còn ai để khiển trách mình và mình được tha hồ muốn làm gì thì làm   . Di sản tâm linh do vị Thầy để lại do đó có thể gặp phải nguy cơ sớm bị thoái hóa nhanh chóng. Hơn nữa hai người đệ tử thân cận nhất của Đức Phật là Xá-lợi-phất (Sâriputra) và Ma-ha Mục-kiền-liên (Mahâmogghallâna) thì lại cũng vừa viên tịch trước đó không lâu, vì thế mà người đệ tử đứng hàng thứ ba là Ma-ha Ca-diếp (Mahakassapa) phải đứng ra gánh vác trọng trách trên đây. Ma-ha Ca-diếp đề nghị nên tổ chức một đại hội nhằm mục đích bảo tồn sự chính xác cho giáo lý nguyên thủy. Ý kiến này được toàn thể Tăng Đoàn tán đồng và Ma-ha Ca-diếp bèn chọn các vị sư uyên bác nhất để nhờ họ đảm đang công việc này và sau hết thì toàn thể đại hội sẽ chứng duyệt các kết quả.
Thế là các vị tu sĩ từ khắp nơi kéo nhau về thủ đô Râjagaha của xứ Ma-kiệt-đà (Maghadha). Họ phải mất hơn một tháng trời mới dựng xong các lều tạm trú, và sau đó thì việc bàn thảo thống nhất giáo lý  kéo dài suốt bảy tháng trời. Các buổi thảo luận được tổ chức tại một hang động lớn tên là Sattapanni trên ngọn núi Vebhâra. Ngài Ưu-ba-li (Upâli) phụ trách tường trình về Luật Tạng (Vinaya), và Ngài A-nan-đà (Ânanda) thì đảm trách phần Đạo Pháp (lúc bấy giờ chưa có tạng thứ ba).
Ưu-ba-li chắc hẳn  phải là một nhà sư lỗi lạc thì mới được giao phó cho trọng trách ôn tập Luật-tạng. Thế nhưng thật ra cho đến nay người ta vẫn không biết gì nhiều về thân thế của vị đại sư này, và sự kiện ấy cho thấy là sự hiểu biết của chúng ta về khoảng thời gian đầu tiên của Phật Giáo còn rất thiếu sót. Ngài A-nan-đà thì đã nổi danh là người có trí nhớ tốt và cũng từng là người trợ tá bên cạnh vị Thầy suốt trong nhiều năm. Nhờ lúc nào cũng ở bên cạnh Đức Phật nên ông là một nhân chứng đáng tin cậy nhất về sự sinh hoạt và các buổi tiếp kiến của Ngài. Các vị nào trước đây thường tham dự các buổi thuyết giảng thì cũng có thể đóng góp thêm bằng sự hiểu biết riêng của mình, hoặc cũng có thể nêu lên các điểm mà mình không hoàn toàn đồng ý. Chỉ khi nào toàn thể hội đồng đều chấp nhận là đúng thì khi đó những gì tuyên đọc mới được xem là giáo lý chính thống, và cũng xin nhắc thêm là vào thời bấy giờ thì giáo lý còn hoàn toàn mang hình thức truyền khẩu.
Không lâu sau khi việc chỉnh đốn giáo lý và đại hội chấm dứt, có một nhà sư tên là Parâna trong khi đi khất thực cùng với các đồ đệ của mình ở Râjagaha thì có người hỏi ông nghĩ gì về việc chỉnh đốn các câu chuyện trong đại hội vừa qua, và vị này cho biết là theo ông thì ông vẫn thích ôn tập lại những gì do chính vị Thầy đã thuyết giảng và chính ông đã được nghe.
Sau lần kết tập thứ nhất trên đây thì các nhà sư chuyên giữ chức vụ ôn tập được giao phó trọng trách học thuộc lòng giáo lý chính thống để truyền khẩu cho người khác. Đấy chính là cách mà giáo lý được lưu truyền và bảo tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác.
 Kết Tập Đạo Pháp lần thứ hai và thứ ba
Một trăm năm sau đại hội trên đây thì người ta thấy bắt đầu phát sinh một số khuynh hướng muốn cải cách các giới luật nơi chùa chiền, và những việc này đã đưa đến nhiều cuộc tranh cãi. Do đó mọi người thấy cần phải tổ chức lần Kết Tập thứ hai tại thành Vệ-xá-lị (Vesâli) hầu mượn thêm một dịp nữa để ôn lại giáo lý chính thống đã được học thuộc trước đây nhằm điều chỉnh lại những điều sai sót. Tuy thế cũng không tránh khỏi bộc phát một sự chia rẽ, bởi vì có một số người chủ trương phải giữ nguyên giáo lý cũ và các người này thì được gọi là các người xưa (Trưởng Lão Bộ  – Theravâdin), và số người còn lại có vẻ đông hơn và được gọi là các vị đại chúng (Đại Chúng Bộ – Mahâsangika), thì có khuynh hướng muốn đưa ra một số cải cách. Ngoài ra trong mỗi nhóm lại còn nẩy sinh ra thêm một số khuynh hướng tách rời khác nữa. Kết cuộc là nhiều học phái khác nhau đã phát sinh, và theo sử liệu cho biết thì có mười-tám học phái tất cả.
Về sau này vào thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên, dưới triều đại của hoàng đế A-Dục (Azoka), thì có một số vị đạo sư (guru) có ý lạm dụng, tự mình đưa ra một số giáo huấn và tuyên bố đấy là giáo huấn đích thật của Đức Phật, và sự kiện này đã gây ra hoang mang không ít. Vì thế một hội đồng được triệu tập nơi công viên A-dục tại thủ phủ Pâtaliputa. Đây là lần Kết Tập thứ ba, được tổ chức  vào khoảng năm 253 trước kỷ nguyên. Toàn bộ giáo lý sau khi đã được chỉnh đốn thì được phân chia thành ba « tạng » như chúng ta thấy ngày nay. Sau khi đại hội chấm dứt thì một số các phái bộ truyền giáo được thành lập để gửi đến chín quốc gia khác nhau, trong số này có Tích Lan (Sri Lanka).
Việc truyền giáo tại Tích Lan
Một thế kỷ trước khi phái bộ truyền giáo được gửi đến Tích lan thì đã có một người tên là Vijaya gốc miền bắc Ấn đến chiếm đóng hòn đảo này và đưa dân đến đây lập nghiệp. Ngôn ngữ và tập quán trên đảo do đó cũng không khác nhiều so với ngôn ngữ và tập quán thuộc vùng đồng bằng sông Hằng. Nhà vua Tích Lan là Devanampiyatissa trị vì Tích Lan từ năm -307 đến năm -267 cũng đã tạo được một mối giao hảo tốt đẹp với hoàng đế A-dục. Trong khi đang đi săn bắn tại Mihintale (một nơi gần thủ đô Tích Lan và thuộc vào miền bắc của hòn đảo này) thì ông gặp nhà sư Mahinda là con trai của hoàng đế A-dục đang trên đường mang trọng trách đưa giáo lý Phật Giáo vào Tích Lan. Không lâu sau cuộc gặp gỡ bất ngờ đó thì nhà vua trên đảo liền tuyên bố là sẽ ủng hộ Phật Giáo và ông ra lệnh xây dựng một ngôi Đại Tự Viện dành cho nhà sư Mahinda. Ngôi chùa to lớn này có chín tầng lầu và tọa lạc ngay bên cạnh thủ phủ là Anurâdhapura. Ngày nay ngôi Đại Tự Viện và một vài di tích thành quách thời bấy giờ vẫn còn tồn tại và mọi người đều có thể đến viếng thăm. Nhà vua chính thức đứng ra tiếp nhận quà biếu gồm chiếc bình bát khất thực của Đức Phật để lại, một ít xá-lợi và một chồi cây mọc lên từ gốc cội Bồ-đề nơi mà Đức Phật đạt được Viên Mãn. Chỗ trồng chồi cây Bồ-đề này ngày nay đã trở thành một nơi hành hương trên đảo. Đồng thời dưới triều đại của vị vua này thì các lời bình giải giáo lý cũng bắt đầu được ghi chép bằng ngôn ngữ Cingalese (thổ ngữ của Tích Lan).
Vào thế kỷ thứ nhất trước kỷ nguyên và dưới triều đại của vua Vattagâmani (104-88), đã xảy ra nhiều biến cố chính trị khiến các dòng truyền thụ (tức các nhà sư chuyên đảm trách việc học thuộc lòng giáo lý để phổ biến và lưu truyền về sau) gần như bị gián đoạn. Vì thế nên các vị trụ trì ngôi Đại Tự Viện quyết định phải cho ghi chép bằng chữ viết các câu chuyện (tức các bài kinh) trong giáo lý và quyết định này đã được thực hiện tại một nơi cách xa thủ đô, trong môt ngôi chùa mang tên là Aluvihare. Ngôi chùa này vẫn còn đứng vững đến nay tại thị trấn Matale thuộc vào phía bắc của tỉnh Kandy, và mọi người đều có thể đến viếng dễ dàng. Tại đây có trưng bày các tờ kinh bằng lá bối (một loại cây cau hay cây dừa nhưng mặt lá thì to bản hơn) với các nét chữ thật tinh xảo khắc bằng đầu kim nhọn. Mặt lá được mài nhẵn, sau đó thì khắc chữ lên trên, thoa mực và lau sạch, mực chỉ còn giữ lại trong các nét khắc.
Dưới triều đại của vua Kutakannalissa (42-20 trước kỷ nguyên) đã xảy ra một số biến cố mà người ta không biết đích xác là gì thế nhưng đã khiến các vị trụ trì ngôi Đại Tự Viện đã quyết định chọn giải pháp là từ đấy phải dựa vào các văn bản ghi chép bằng chữ viết để bảo trì giáo lý và việc hoằng pháp phải giữ một vai trò quan trọng, ưu tiên hơn cả việc tu tập.
Vào thập niên 430 có một vị đại sư tên là Phật Âm (Buddhaghosa) chuyên dịch các lời bình giải bằng tiếng Cingalese sang ngôn ngữ nguyên thủy mà người ta thường gọi là ngôn ngữ Ma-kiệt-đà (Mâghada), tức là ngôn ngữ của đế quốc Ma-kiệt-đà trước đây vào thời kỳ Đức Phật còn tại thế, và vào thời bấy giờ thì kinh đô là Râjagaha. Về sau này kinh đô của hoàng đế A-dục là Pataliputta cũng đã được thiết lập trong địa phận của đế quốc Ma-kiệt-đà trước đây.
Ngày nay người ta thường dùng thuật ngữ « văn bản Pa-li » để gọi chung toàn bộ «kinh sách chính thống» nhằm phân biệt với các lời bình giải mang tên là atthakatha. Phật Âm thực hiện một công trình thật đáng kể là đã dịch lại phần bình giải của bộ Trung A Hàm (Majjhima Nikaya) mang tên là Papancasudani, tuy rằng trước đó ông cũng đã từng trước tác được một tập luận mang tên là Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) tổng hợp tất cả các lời bình giải liên quan đến các văn bản chính thống. Phật Âm tổng kết thật tỉ mỉ lịch sử hình thành của giáo lý cổ xưa, có nghĩa là từ thời kỳ mà Đức Phật Cồ-đàm còn tại thế – thật ra thì một vài biến đổi cũng có thể đã xảy ra trong khoảng thời gian kể từ các thời kỳ ấy cho đến thế kỷ thứ III của kỷ nguyên hiện tại. Phật Âm gần như không hề góp thêm một quan điểm riêng tư nào của mình, và nếu có thì ông cũng đều cho biết thật minh bạch rằng đấy là những gì do chính ông đưa ra.
Một câu chuyện nhỏ về
NHỮNG VẾT CHÂN VOI
(Culahatthipadopamasuttam – bài kinh số 27)
            Cứ mỗi năm hai lần tại thủ đô Sâvatthi của đế quốc Kiêu-tát-la (Kosala) đều có tổ chức một ngày lễ hội thật lớn. Vào những ngày trước đó dân chúng đã náo nức chuẩn bị, nào là họ quét dọn đường xá, rải cát lên mặt đường, chưng hoa, treo cờ, thắp hương, và lại còn đặt thêm các chiếc vại to đựng đầy nước ở khắp nơi. Từ lúc tờ mờ sáng vị thủ lãnh Ba-la-môn Jânassoni đã thức dậy, tắm rửa và ăn mặc toàn màu trắng, sau đó ông trịnh trọng bước ra khỏi lâu đài và bước lên một cỗ xe thật to trang trí toàn bằng bạc và do bốn con ngựa cái màu trắng kéo, yên cương thì toàn bằng bạc. Các vị Bà-la-môn khác cũng ăn mặc toàn trắng cầm lọng trắng đi hộ tống hai bên cỗ xe. Hàng đoàn thanh niên và thiếu nữ nối đuôi theo sau, họ phân phát hoa quả và ném tiền vào dân chúng đang chen lấn nhau, vừa tung hô vừa vẫy khăn thật vui vẻ. Đoàn người diễn hành trong thành phố, điềm lành hiện ra khắp nơi. Sau đấy thì các vị chức sắc quay về lâu đài, riêng vị thủ lãnh Bà-la-môn Jânussoni thì cho xe ra khỏi thành phố qua cổng phía nam để đi một vòng ngoại thành theo hướng mà thành phố luôn thuộc vào bên tay phải. Trong lúc xe đang chạy thì ông ta gặp một người trẻ tuổi tên là Pilotika thuộc bộ tộc Vacchâyana đang từ bên ngoài đi vàothành phố, người này vừa hầu Đấng Thế Tôn và các vị thành đạt (tăng đoàn) xong và đang quay về.
            Tôi từng được nghe như thế này.
            Vào lúc bấy giờ Đấng Thế Tôn đang ngụ gần thành Sâvatthi, nơi khu vuờn Cấp-cô-độc (Anâthapindika)
Vị Bà-la-môn Jânussoni sở dĩ gặp được nhà tu phiêu bạt (không nhà cửa) Pilotica, ấy là nhờ vào việc xuất hành bằng cỗ xe do bốn con ngựa cái kéo vào lúc trưa hôm nay. Ông ta cất lời hỏi người tu hành như thế này:
- Thưa ngài đáng kính Vacchâyana, vậy thì ngài đang đi đâu đấy vào lúc giữa trưa như thế này?
-  Thưa ngài đáng kính, tôi vừa cáo biệt vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm và đi ngang đây.  
- Thưa vị đáng kính Vacchâyana, ngài nghĩ thế nào về sự thông thái của nhà tu hành khổ hạnh Cồ-đàm? Có phải vị ấy là một bậc hiền nhân hay không?
- Thưa vị đáng kính, tôi ấy à? Nào tôi có phải là người để mà đánh giá sự thông thái mà nhà tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đã từng biểu lộ đâu? Chỉ có ai ngang hàng thì may ra mới đủ sức để thẩm định sự thông thái của vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm mà thôi.
- Chẳng qua thì đấy cũng chỉ là những lời ngợi khen quá đáng mà ngài đáng kính Vacchâyana dùng để tôn vinh vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đấy thôi!
- Thưa vị đáng kính, tôi ấy à? Nào tôi có phải là người để mà tôn vinh vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đâu? Bởi vì chỉ có những danh nhân tột đỉnh may ra mới xứng đáng để có thể tôn vinh vị đáng kính Cồ-đàm mà thôi, Ngài là vị cao đẹp nhất giữa các vị trời và đối với tất cả con người.
- Vậy thì thưa ngài đáng kính Vacchâyanna lý do nào đã khiến ngài đặt hết niềm tin vào vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm như thế?
- Thưa ngài đáng kính, nếu một người săn voi thiện nghệ tiến vào một khu rừng voi và trông thấy một vết chân thật lớn, vừa dài lại vừa rộng, thì nhất định hắn sẽ tiên đoán đấy phải là một con voi khổng lồ. Cũng thế, thưa ngài đáng kính, tôi nhận thấy nơi vị tu khổ hạnh bốn dấu hiệu khiến tôi hiểu rằng Đấng Thế Tôn phải là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            - Vậy bốn dấu hiệu ấy là gì?    
            Tôi từng trông thấy, thưa vị đáng kính, các vị hiền nhân trong giới quý tộc, họ là những vị thật tinh tế, thắng được tất cả mọi cuộc tranh biện, rất sâu sắc, đánh đổ được mọi thứ  giáo điều bằng sự sáng suốt của mình. Họ dọ hỏi xem vị tu hành khổ hạnh sẽ đi ngang thị  trấn nào hay ngôi làng nào để chuẩn bị trước một câu hỏi như thế này: « Nếu Vị ấy trả lời bằng cách này, thì chúng tôi cũng sẽ vạch trần được sự sai lầm trong câu trả lời của Vị ấy theo đúng với cách ấy. Nếu Vị ấy trả lời theo cách kia thì chúng tôi cũng sẽ vạch trần được sự sai lầm trong câu trả lời của Vị ấy theo đúng với cách kia ».
            Thế rồi họ biết được Vị tu hành khổ hạnh sẽ dừng lại tại một thị trấn hay một ngôi làng đúng như dự tính. Họ bèn tìm gặp Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm, và Vị tu hành khổ hạnh thuyết giảng cho họ nghe một bài Pháp. Thế rồi Ngài chinh phục ngay được họ, khơi lên lòng nhiệt tâm của họ, mang lại lòng hứng khởi cho họ, và họ không còn nghĩ đến việc nêu lên câu hỏi của mình với Vị tu hành khổ hạnh nữa. Khi trông thấy tận mắt dấu hiệu thứ nhất ấy nơi vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm thì tôi liền hiểu rằng Đấng Thế Tôn quả thật là một Vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Tôi đã từng trông thấy, thưa ngài đáng kính, các vị hiền nhân trong giới Bà-la-môn, họ thật tinh tế...(lập lại đúng với cách được trình bày trên đây).
            Tôi đã từng trông thấy, thưa ngài đáng kính, các vị hiền nhân trong số các vị chủ gia đình, họ thật tinh tế ...( lập lại như trên đây).
            Sau hết tôi cũng từng trông thấy, thưa ngài đáng kính, các vị hiền nhân tu hành khổ hạnh... (lập lại như trên đây và tiếp theo như sau)... họ cũng không hề nghĩ đến việc nêu lên câu hỏi của mình với Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm. Vì thế thì còn có dịp nào để mà bác bỏ được lời giải đáp của Vị ấy? Hơn thế nữa họ đã nhân dịp may ấy để xin Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm cho phép họ được đi từ nhà này sang nhà khác (có nghĩa là đi khất thực, tức là xin được bước theo Đức Phật), và Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đã đồng ý.
            Khi đã đi từ nhà này sang nhà khác thì tất nhiên là họ cũng sẽ giữ một nếp sống đơn độc, ẩn dật, luôn cảnh giác, hăng say và quyết tâm, và cũng không cần phải chờ lâu để có thể nhìn thấy họ có thể trông thấy bằng chính mắt họ, bằng sự hiểu biết trực tiếp của họ, qua hiện thực đang hiện hữu với họ về sự Hoàn Thiện tối thượng mang lại từ một nếp sống thánh thiện mà các người con của các gia đình tốt lành đã chuyển từ nếp sống nơi tổ ấm sang một nếp sống không gia cư, cũng không cần phải chờ lâu để có thể trông thấy họ đạt được cuộc sống ấy và an trú trong cuộc sống ấy. Họ bảo rằng: « Trước đây đối với chúng tôi tất cả toàn là sự mất mát, và chúng tôi cũng đã gần như đang trong lúc sắp phải mất mát tất cả, bởi vì chúng tôi cứ ngỡ mình là những người tu hành khổ hạnh thế nhưng thật ra thì lại không đúng thế, chúng tôi cứ ngỡ mình là những vị Bà-la-môn thế nhưng thật ra thì lại không đúng thế, chúng tôi cứ ngỡ mình là những người Toàn Thiện thế nhưng thật ra thì lại không đúng thế. Hôm nay thì lại khác, chúng tôi đúng thật đã trở thành người tu hành khổ hạnh, chúng tôi đúng thật đã trở thành người Bà-la-môn, chúng tôi đúng thật đã trở thành người Toàn Thiện. Khi tôi được trông thấy dấu hiệu thứ tư ấy (tức bốn trường hợp xảy ra với các vị hiền nhân thuộc bốn tầng lớp xã hội là: quý tộc, Bà-la-môn, các người chủ gia đình và các người tu hành khổ hạnh) nơi vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm thì tôi liền hiểu ngay rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Quả đúng là như thế, thưa ngài đáng kính, bởi vì tôi đã trông thấy tận mắt bốn dấu hiệu nơi nhà tu hành khổ hạnh Cồ-đàm và tôi đã hiểu ngay rằng Đấng Thế tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường ».
            Sau khi nghe được những lời trên đây thì vị Bà-la-môn Jânussoni bèn bước xuống xe trang trí toàn bằng màu trắng kéo bởi bốn con ngựa cái, sửa lại áo trên vai cho ngay ngắn chắp tay nhìn về hướng nơi tạm trú của Đấng Thế Tôn để vái lạy và thốt lên như sau:
            « Xin đảnh lễ Đấng Thế Tôn hoàn hảo, một vị Phật Toàn Thiện! Xin đảnh lễ Đấng Thế Tôn hoàn hảo, một vị Phật Toàn Thiện! Xin đảnh lễ Đấng Thế Tôn hoàn hảo, một vị Phật Toàn Thiện! Tôi cầu xin trong dịp này hay vào dịp khác được đích thân đến gặp Vị đáng kính Cồ-đàm. Tôi cầu xin được diễm phúc đàm đạo với Ngài.
***
            Sau cuộc gặp gỡ đó thì vị Ba-la-môn Jânussica tìm cách gặp Đấng Thế Tôn. Vị này và Đấng Thế Tôn trao nhau vài lời chào hỏi và cùng tỏ bày sự kính cẩn thật thân ái và đáng ghi nhớ, và sau đấy thì trịnh trọng ngồi xuống. Sau khi an tọa thì vị Bà-la-môn thuật lại với Đấng Thế Tôn cuộc đàm thoại trước đây với vị tu hành phiêu bạt Pilotika.
            Đấng Thế Tôn bèn cất lời với vị Bà-la-môn Jânussica như sau:
- Này vị Bà-la-môn, nếu nói như thế thì quả là các vết chân voi không được đầy đủ chi tiết. Vậy hãy lắng nghe nhé.
            Vị Bà-la-môn đáp lại :
- Vâng, thưa vị đáng kính.
- Này vị Bà-la-môn, khi người săn voi tiến sâu vào khu rừng voi thì hắn trông thấy một vết chân voi thật to, vừa dài lại vừa rộng, nếu hắn là một người săn voi thiện nghệ thì hắn sẽ phải thận trọng mà không quyết đoán ngay đấy là một con voi khổng lồ. Tại vì sao? Bởi vì trong khu rừng có những con voi nhỏ [thế nhưng có thể] để lại những vết chân thật to, và biết đâu một trong số các vết chân này lại cũng là vết chân mà hắn đã trông thấy. [Vì thế nên] người săn voi lại tiếp tục tiến sâu hơn vào khu rừng.            
            Khi tiến sâu hơn vào khu rừng, hắn lại trông thấy một vết chân voi to lớn, dài và rộng, và cả những dấu vết cọ xát vào phía trên [vào các thân cây]. Nếu đấy là một người săn voi thiện nghệ thì hắn không quyết đoán ngay đấy là một con voi to lớn. Tại vì sao? Bởi vì trong khu rừng có những con voi cái to lớn màu nâu để lại những vết chân thật to, và vết chân mà người săn voi trông thấy biết đâu cũng có thể là một trong các vết chân của chúng.
            « Người săn voi lại tiếp tục tiến sâu hơn nữa, hắn lại trông thấy một vết chân to lớn, dài và rộng, hắn trông thấy các vết cọ xát vào phía trên cũng như các vết vỏ cây bị ngà voi làm cho tróc ra và các cành trên cao cũng bị gãy. Thế nhưng nếu hắn là một người săn voi thiện nghệ thì hắn sẽ không quyết đoán ngay đấy là một con voi to lớn. Tại vì sao? Bởi vì trong rừng có những con voi cái lớn với cặp ngà mọc chỉa sang hai bên và chúng cũng để lại các vết chân lớn, và vết chân này biết đâu cũng có thể là vết chân mà hắn trông thấy. Người săn voi lại tiếp tục tiến sâu hơn nữa.
            « Càng đi sâu hơn vào khu rừng hắn lại tiếp tục trông thấy các vết chân voi to lớn khác, dài và rộng,  hắn cũng thấy cả các vết cọ xát phía bên trên, các vết [vỏ cây] tróc ra trên cao do ngà voi gây ra, và cả các cành cao bị gãy, và hơn thế nữa hắn còn trông thấy cạnh một gốc cây hay giữa một khu quang đãng có một con voi thật to, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, và chỉ khi ấy thì hắn mới quả quyết rằng đấy chính thật là một con voi to lớn.
            « Cũng thế, này vị Bà-la-môn, một Đấng Như Lai (một Đấng Như Lai ở đây chỉ định một Đấng Giác Ngộ nói chung, không nhất thiết là Đức Phật Thích-ca, chữ một trong câu này cho thấy ý nghĩa thật tinh tế) xuất hiện trong thế giới này, đạt được sự viên mãn, là một vị Phật hoàn hảo, thông suốt mọi sự, hành xử đạo đức và đúng đắn, là một vị Thầy của các thiên nhân và con người, là Phật, là Đấng Thế Tôn (cách diễn đạt này được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo - Visud VII, 2 – ghi chú thêm của Christian Maes). Vị ấy trông thấy tận mắt và bằng sự hiểu biết trực tiếp về thế giới này trong đó gồm có các vị Thiên Nhân, Ma Vương (Mara), các vị Phạm Thiên (Brahma), các vị tu hành khổ hạnh, các vị Bà-la-môn, và tất cả nhân loại từ các vị vua chúa oai phong cho đến con người, Vị ấy tôn xưng như thế. Vị ấy giảng dạy Đạo Pháp (Dhamma), đúng từ đoạn đầu, đúng trong đoạn giữa và đúng cả đoạn cuối, từ nội dung cho đến hình thức. Vị ấy là hiện thân của một nếp sống thánh thiện, trọn vẹn và hoàn toàn tinh khiết (cách diễn đạt này được bình giải trong Thanh Tịnh Đạo, Visud VII, 69 – ghi chú của Christian Maes).
            « Một người chủ gia đình, một người con nơi tổ ấm hay một người sinh ra trong bộ tộc này hay bộ tộc nọ nếu được nghe giảng về Đạo Pháp và sau đó Đạo Pháp mang lại cho người này lòng tin nơi Đấng Như Lai thì người ấy tất sẽ nghĩ như thế này: « Gian nhà của tôi quả là bừa bộn và đầy bụi bặm (1) trong khi ấy thì những người tu hành phiêu bạt lại sống giữa trời cao. Quả thật hết sức khó cho những ai sống dưới mái gia đình lại có thể noi theo một nếp sống thánh thiện với tất cả sự toàn vẹn của nó, một nếp sống hoàn toàn tinh khiết và bóng láng như một vỏ sò. Tốt hơn hết là nên cắt tóc, cạo râu, khoác lên người chiếc áo màu nghệ và đi từ nhà này sang nhà khác.
            Sau đó thì người này bỏ lại tất cả cái khối gia sản của mình dù đấy chỉ là những gì không đáng kể hay thật kếch sù, hắn rời bỏ cái cái vòng giao du trước đây của mình dù là cái vòng giao du ấy rộng lớn hay chỉ nhỏ hẹp, để mà cắt tóc, cạo râu và khoác lên người chiếc áo màu nghệ để đi hết nhà này sang nhà khác.
            Sau giai đoạn chuyển tiếp trên đây thì người ấy lo luyện tập và chọn cho mình nếp sống của một người tu hành. Hắn từ bỏ không hủy hoại luồng sinh khí (không sát sinh), hắn cố tránh không hủy diệt luồng sinh khí (tránh vô tình gây ra sát sinh). Hắn đặt gậy xuống (tránh sự hung bạo), buông thanh kiếm xuống, hắn biết đè nén cơn giận, phát lộ lòng từ bi và quan tâm đến sự an vui của tất cả những gì hiện hữu và biết hít thở.
            Hắn từ bỏ việc trộm cắp và tránh không lấy những gì mà người khác không cho mình. Hắn chỉ lấy những gì mà người khác cho mình, chỉ ước muốn những gì mà người khác cho mình, hắn hoàn toàn không phạm vào việc trộm cắp.
            « Hắn từ bỏ các hành vi ô nhiễm, tránh những hành vi ấy. Hắn biết giữ gìn một cuộc sống đoạn dục, tránh các giao du tự nhiên về tính dục với dân chúng trong làng.
            Hắn từ bỏ sự lừa đảo, tránh không dối gạt. Hắn nói lên sự thật, giữ đúng sự thật và luôn bảo vệ sự thật, hắn xứng đáng là một người tín cẩn, không phỉnh gạt những người chung quanh.
            Hắn từ bỏ những lời ác tâm, tránh không nói lên những lời độc ác. Hắn không thuật lại ở nơi này những gì nghe thấy tại nơi khác hầu không làm hại các người này, hắn không thuật lại tại nơi khác những gì nghe thấy ở nơi này hầu không làm hại những người kia, hắn hòa giải những ai xích mích với nhau, hắn hàn gắn những người đã được hòa giải, hắn hân hoan khi trông thấy sự hòa hợp và luôn thốt ra những lời mang lại sự hòa hợp.
            Hắn từ bỏ những lời nặng nề, tránh không nói năng thô bỉ. Hắn nói lên những lời dịu dàng, dễ nghe, những lời đi thẳng vào con tim người khác, những lời nhã nhặn, ngọt ngào và thú vị đối với tất cả mọi người.
            Hắn từ bỏ cách ăn nói ba hoa, tránh không nói năng huyên thiên. Hắn nói đúng lúc, nói toàn sự thật, nói lên Đạo Pháp, nhắc đến giới luật (Vinaya). Tất cả những lời mà hắn nói lên đều đáng để ghi nhớ, đúng lúc, hàm chứa các luận cứ cần thiết, được quy định rõ rệt và bổ ích.
            « Hắn tránh không hủy hoại cỏ hoa và cây cối. Hắn chỉ ăn một bữa mỗi ngày, không ăn chiều và ăn ngoài thời gian quy định. Hắn không ca hát, nhảy nhót hay chơi nhạc. Hắn không xem hát xướng mang tính cách kích động. Hắn không đeo vòng hoa, xức nước hoa, trang điểm, đeo nữ trang và dùng mỹ phẩm. Hắn từ bỏ giường rộng, giường cao. Hắn từ bỏ vàng bạc. Hắn không ăn các hạt còn sống (giết một mầm sống dù đấy là thực vật). Hắn không ăn thịt sống. Hắn xa lánh đàn bà con gái. Hắn không dùng người nô lệ, dù đấy là đàn ông hay đàn bà, hắn không nhận dê cái hay dê đực. Hắn không nhận gà trống hay heo lợn. Hắn không nhận voi, bò cái, ngựa đực hay ngựa cái. Hắn khước từ ruộng vườn và đất đai. Hắn khước từ không nhận chuyển lời nhắn gửi. Hắn từ bỏ mọi việc mua bán. Hắn không cân đo gian trá, đánh tráo bạc tiền hay sửa gian dụng cụ cân lường. Hắn tránh không giả mạo, lường gạt hay lừa đảo. Hắn tránh không gây ra tật nguyền, hành quyết, xiềng xích, tấn công người đi đường, cướp bóc hay phạm vào các hành động hung bạo. Hắn biết an phận với chiếc cà-sa che thân và chiếc bình bát khất thực giúp mình lót dạ, và dù phải đi đến nơi nào thì cũng luôn phải mang theo những thứ ấy. Tương tự như một con chim, dù có bay đi đâu thì nó cũng bay bằng đôi cánh của chính nó, một người tu hành cũng thế phải biết an phận với chiếc cà-sa che thân và chiếc bình bát khất thực hầu tìm lấy miếng ăn, dù phải đi đến nơi nào thì cũng phải luôn mang theo những thứ ấy.
            Khi nào tuân thủ được toàn bộ các giới luật tinh khiết trên đây thì nhất định hắn cũng sẽ cảm nhận được một niềm hạnh phúc trong nội tâm mình.
            « Khi hắn trông thấy một biểu hiện bên ngoài bằng mắt..., khi hắn nghe thấy một âm thanh bằng tai..., khi hắn ngửi thấy một mùi bằng mũi..., khi hắn nếm một vị bằng lưỡi..., nhận ra một sự đụng chạm qua thân xác..., hoặc nhận biết được một thứ gì đó có thể nhận biết được bằng khả năng nhận biết của mình thì hắn cũng sẽ không bám víu vào những dấu hiệu chính yếu, cũng không bám víu vào các chi tiết biểu hiện khác gây ra sự thèm muốn, cũng không bám víu vào sự bất toại nguyện hoặc là các tác nhân khác mang tính cách không tốt lành hay độc hại có thể chi phối mình, cho đến khi nào hắn chưa đủ khả năng để chủ động được chúng. Hắn quyết tâm phát huy sự chủ động ấy, duy trì sức mạnh của nó và chú tâm vào việc sử dụng toàn diện khả năng của nó (các lời giáo huấn này được giải thích cặn kẽ trong Thanh Tịnh Đạo Visud I, 53 – ghi chú thêm của Christian Maes).
            « Khi đi tới hay đi lui thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt (2). Khi nhìn ra phía trước hay nhìn sang hai bên thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Khi co duỗi chân tay thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Khi mặc chiếc áo cà-sa, khoác thêm áo ngoài hay đưa tay ôm bình bát thì hắn cũng đều thực thi với sự sáng suốt. Khi ăn, uống, nhai hay thưởng thức miếng ăn thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Khi tiểu tiện hay đại tiện thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Lúc đi hay đứng, ngồi hay nằm, đang thức, đang nói năng hay giữ yên lặng thì hắn cũng đều thực thi với sự sáng suốt.
            « Khi đã tuân thủ được toàn diện các giới luật tinh khiết trên đây và hơn thế nữa còn kiểm soát được sự cảm nhận và các hành động của mình như trên đây một cách minh mẫn và giữ được một tâm linh luôn tỉnh thức và cảnh giác thì hắn sẽ tìm cho mình một nơi biệt lập: chẳng hạn như một khu rừng, một gốc cây, một quả núi, một cái hang, một khe suối, một nghĩa địa, một khu đồi rợp bóng, một túp lều tranh hay một gian nhà cỏ. Nơi ấy sau khi khất thực về và ăn xong thì hắn tréo chân và ngồi xuống, thẳng lưng để chú tâm vào sự cảnh giác trước mặt mình.
            « Loại bỏ được mọi sự thèm muốn đối với thế giới này, hắn an nhiên không phát lộ một sự thèm muốn nào, hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng mắc của sự thèm muốn. Loại bỏ được khuyết điểm của mọi sự ghét bỏ hắn an nhiên không phát lộ một sự ghét bỏ nào, hắn quan tâm đến sự an vui của tất cả những gì hiện hữu biết hít thở, và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng mắc của sự ghét bỏ. Loại bỏ được sự mê muội và đờ đẫn, hắn an nhiên không phát lộ một sự mê muội hay đờ đẫn nào, hắn cảm nhận mọi sự vật một cách tỉnh táo, giữ được sự cảnh giác, tâm linh luôn tỉnh thức, và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng của sự mê muội và đờ đẫn. Loại bỏ được mọi sự dao động và lo lắng, hắn an nhiên không phát lộ một sự dao động nào, sự chú tâm của hắn trở nên thật an bình và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng mắc của sự dao động và lo lắng. Loại bỏ được mọi sự do dự hắn an nhiên không phát lộ một sự do dự nào, cũng không còn thắc mắc một điều nào nữa, và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi do dự trước sự cám dỗ của lợi lộc.
            « Hắn chỉ có thể loại trừ được năm thứ chướng ngại ấy (3) - tức những thứ làm ô nhiễm sự chú tâm khiến cho sự minh mẫn phải bị suy giảm - khi nào hắn biết tách rời mình ra khỏi các thứ giác cảm, tách rời mình ra khỏi những tác nhân độc hại, và chỉ khi ấy thì hắn mới có thể đạt được thể dạng jhâna thứ nhất (đệ nhất thiền) - thể dạng này gồm có sự chú-tâm-vững-chắc và sự duy-trì-vững-bền và một niềm hân-hoan tràn đầy phúc-hạnh phát sinh từ sự biệt lập -, và hắn sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy chính là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế một đệ tử tinh khiết vẫn chưa có đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đầng Thế Tôn được đưa ra thật đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Hơn thế nữa, này vị Bà-la-môn, bằng cách làm biến mất sự chú-tâm-vững-chắc và sự duy-trì-vững-bền, người tu hành sẽ đạt được thể dạng jhâna thứ hai (đệ nhị thiền) - thể dạng này gồm có sự tự-tin-trong-sáng thuộc nội tâm và sự vượt-thoát-độc-đáo của tâm thức, thoát ra khỏi sự chú-tâm-vững-chắc và sự duy-trì-bền-vững, và đấy cũng là môt sự hân-hoan ngập tràn phúc-hạnh phát sinh từ sự chú tâm, hắn sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy chính là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai. Tuy thế một người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Hơn thế nữa, này vị Bà-la-môn, bằng cách loại bỏ được cả sự hân-hoan, người tu hành sẽ duy trì được một sự quán-thấy-trung-hòa. Cảnh giác và hoàn toàn tỉnh thức, người ấy cảm nhận được một niềm phúc-hạnh trên thân xác và đạt được thể dạng jhâna thứ ba (đệ tam thiền), đối với thể dạng ấy thì những người Không-Còn-Bị-Ô-Nhiễm sẽ gọi đấy là: « Thể dạng duy trì được niềm phúc hạnh trong sự trung hòa và cảnh giác », và người này sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Hơn thế nữa, này vị Bà-la-môn, bằng cách loại bỏ được sự hân-hoan và đau đớn, và hơn nữa nhờ đã loại bỏ từ trước được cả sự toại nguyện cũng như bất toại nguyện, người tu hành sẽ đạt được thế dạng thứ tư của jhâna (đệ tứ thiền), thể dạng ấy không khó chịu cũng không thích thú, đấy là thể dạng tinh khiết của sự cảnh giác phát sinh từ một sự quán-thấy-trung-hòa, và người này sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy nhiên người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn đã được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Khi sự chú tâm đạt được thể dạng tập trung cao độ trên đây và trở nên hoàn toàn tinh khiết, không còn mang một tì vết nào, không còn một mảy may ô nhiễm nhỏ nhoi nào, thì sự chú tâm ấy cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ sử dụng, bền vững, không biến động, và người tu hành sẽ hướng nó vào sự hiểu-biết-gợi-lại-bằng-trí-nhớ về các trú xứ trước đây (Thanh Tịnh Đạo Visud XIII, 12.)  Người ấy nhớ lại được các thể loại trú xứ từ trước, chẳng hạn đấy là một sự sinh, hai sự sinh, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn sự sinh, xuyên qua nhiều kỷ nguyên hủy hoại và hình thành: « Tôi mang một tên họ nào đó, thuộc vào dòng dõi nào đó, màu da như thế này, dinh dưỡng như thế kia, tôi từng được hạnh phúc hay phải chịu sự bất hạnh ra sao, tôi sống được bao lâu. Sau khi qua đời thì tôi sinh ra ở một nơi nào đó và tại nơi ấy tôi mang tên như thế này, thuộc dòng dõi này, màu da thì thế nọ, ăn uống như thế ấy, đạt được hạnh phúc như thế này, phải chịu bất hạnh như thế kia, và kiếp sống của tôi kéo dài được từng ấy. Sau khi qua đời thì tôi lại sinh ra tại chính nơi đây ». Đấy là cách mà người ấy nhớ lại các trú xứ khác nhau từ trước qua các thể dạng khác nhau và bằng những tên gọi khác nhau. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Khi sự chú tâm đạt được thể dạng tập trung cao độ trên đây và trở nên hoàn toàn tinh khiết, không còn mang một tì vết nào, không còn một mảy may ô nhiễm nhỏ nhoi nào, thì sự chú tâm ấy cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ sử dụng, bền vững, không biến động, và người tu hành sẽ hướng nó vào sự hiểu biết về cái chết và sự tái sinh cùa các chúng sinh (Thanh Tịnh Đạo, Visud XIII, 71). Người tu hành, bằng con mắt thiêng liêng, đã được tinh khiết hóa và vượt cao hơn khả năng con người, sẽ trông thấy được chúng sinh chết và tái sinh trong một cấp bậc như thế nào: thấp lùn hay cao ráo, xinh đẹp hay xấu xí, giàu có hay cơ hàn. Vị ấy nhìn thấy được quá trình diễn tiến trong cuộc sống của từng chúng sinh phù hợp với nghiệp của họ: « Các chúng sinh hành động một cách tệ hại bằng thân xác, ngôn từ và tâm thần, chỉ trích các vị Tinh Khiết (người Tu Hành và các Thánh Nhân), mang những sự tin tưởng sai lầm và hành động dưới sự chi phối của những sự tin tưởng sai lầm, thì sau khi thân xác mòn mỏi và chết đi thì sẽ lâm vào cảnh thua thiệt, một kiếp sống tồi tệ, suy sụp, chẳng khác gì nơi cõi địa ngục. Các chúng sinh nào hành động một cách tốt lành bằng thân xác, ngôn từ và tâm thần, không chỉ trích các vị Tinh Khiết, mang những tin tưởng đúng đắn và hành động dưới ảnh hưởng của những sự tin tưởng đúng đắn, thì sau khi thân xác mòn mỏi và chết đi thì sẽ đưa đến một kiếp sống tốt đẹp hơn nơi cõi thiên nhân. « Đấy là cách mà bằng con mắt linh thiêng... vị ấy nhìn thấy được quá trình diễn tiến trong cuộc sống của từng chúng sinh phù hợp với nghiệp của họ. Này vị Bà-là-môn, đấy là những gì người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn không đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn bước đúng theo con đường.
            « Khi sự chú tâm đạt được thể dạng tập trung cao độ trên đây và trở nên hoàn toàn tinh khiết, không còn mang một tì vết nào, không còn một mảy may ô nhiễm nhỏ nhoi nào, thì sự chú tâm ấy cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ sử dụng, bền vững, không biến động, và người tu hành sẽ hướng nó vào sự hiểu biết về cách loại bỏ mọi ô nhiễm. Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự bất hạnh » (4). Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là nguồn gốc mang lại sự bất hạnh ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự chấm dứt mọi sự bất hạnh ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi sự bất hạnh ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự ô nhiễm ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là nguồn gốc đưa đến sự ô nhiễm ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự chấm dứt mọi sự ô nhiễm ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: «  Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi sự ô nhiễm ». Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn bước đúng theo con đường.
            « Khi đã hiểu được điều ấy, nhìn thấy đưọc điều ấy thì tâm thức của người ấy cũng sẽ được giải thoát khỏi mọi sự ô nhiễm gây ra bởi giác cảm, tâm thức của người ấy sẽ được giải thoát khỏi mọi ô nhiễm phát sinh từ sự hiện hữu, tâm thức của người ấy được giải thoát khỏi mọi sự mù quáng. Sự Giải Thoát phát sinh từ sự hiểu biết : hiểu biết tức có nghĩa là « đạt được giải thoát ». Người ấy biết được một cách chắc chắn là sự sinh từ nay đã bị hủy diệt, cuộc sống thánh thiện trước đây cũng đã chấm dứt, và mình đã làm xong tất cả những gì phải làm, và chẳng còn gì sót lại để còn phải tiếp tục làm trong thế gian này. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Này vị Bà-la-môn, và đấy cũng chính là thể dạng sau cùng và nhờ vào đó mà người đệ tử tinh khiết đạt được hoàn toàn khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn đã được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Này vị Bà-la-môn, kể từ lúc này thì hình ảnh của những vết chân voi đã hoàn toàn đầy đủ từng chi tiết »
            Đấng Thế Tôn thuyết giảng như thế, và vị Bà-la-môn Jânussoni đã thốt lên như sau :
            - Tuyệt vời thay, thưa Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm ! Tuyệt vời thay, thưa Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm ! Tương tự như những gì đổ xuống lại được dựng lên, những gì bị che khuất lại được tìm thấy, chẳng khác gì như chỉ đường cho một người đi lạc, thắp lên một ngọn đèn trong bóng tối giúp những ai có mắt đều có thể nhìn thấy!
Đấy cũng chính là cách mà Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm trình bày giáo huấn bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tôi xin quy y nơi Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm, nơi Đạo Pháp và nơi Tăng Đoàn gồm những người xuất gia. Kể từ giây phút này, xin Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm hãy xem tôi như một đệ tử biết giữ gìn sự quy y của mình cho đến khi nào vẫn còn một luồng sinh khí hiện hữu với hắn.
Ghi chú của Christian Maes
            1-  Thật khó để thực hiện một nếp sống thánh thiện trong bối cảnh gia đình, nơi đó « bụi bặm » của sự bám víu, ghét bỏ và ảo giác làm nhơ bẩn tất cả mọi thứ.
2-  Lúc đang đi hay khi khom xuống, dù là theo hướng này hay theo hướng kia thì người ấy cũng luôn nhớ đến phép tu tập của mình để quán xét xem cái động tác ấy có đúng với phép tu tập của mình hay không. Hắn không tưởng tượng ra một người đang bước tới hay đang thụt lùi, mà phải nhìn thấy được đấy chỉ là một hành động tâm thần (tác ý) hướng dẫn thành phần gió (« cử động » được xem như là thành phần « khí » của tứ đại) và thành phần gió thì làm chuyển động cấu hợp thân xác.
Người ta kể lại rằng có một nhà sư uyên bác đang đàm đạo với các đệ tử của mình thì bổng nhiên gập cánh tay lại. Sau đó thì ông lại duỗi ra thật chậm chạp và gập lại cũng thật từ tốn. Đám đệ tử ngơ ngác, nhà sư bèn giải thích cho họ như sau: « Này các bạn, khi tôi đã chọn một đối tượng để tập luyện thì sau đó dù có thực thi một cử động nào thì tôi cũng không làm cho việc theo dõi đối tượng ấy phải bị gián đoạn. Thế nhưng trong lúc mà tôi đang nói chuyện với các bạn thì tôi đột nhiên gập tay lại và quên mất đối tượng. Đấy là lý do tại sao tôi lại phải đưa cánh tay trở về vị trí cũ và sau đó thì mới gập trở lại, và lần này thì tôi theo dõi được đối tượng ».
3-  Sự loại bỏ năm thứ chướng ngại xác định một « thể dạng chú tâm gần kề » (Visud IV, 42) giúp đạt được jhâna thứ nhất (tức cấp bậc thứ nhất trong thể dạng lắng sâu vào sự trầm tư).
            4-  Sự bất hạnh, hay dukkham, tạo ra sự tiếp nối liên tục của từng khoảnh khắc tri thức và nó bao gồm tất cả các thứ bất hạnh khác như khổ nhọc, đớn đau, thích thú, v.v...
Vài lời ghi chú của người  dịch
Trên đây quả thật là một bài kinh thật trọn vẹn và trong sáng, bố cục thật tuyệt vời, không có gì để bình giải thêm, nếu không thì cũng chỉ cần nhấn mạnh đến sự biến đổi của xã hội con người sau hơn hai-nghìn-năm-trăm năm. Ngày nay trộm cắp không còn nhất thiết chỉ có nghĩa là thò tay cầm nhầm những gì không phải của mình mà còn có nghĩa là làm ăn bất chính, dùng quyền lực để nhận hối lộ, tước đoạt của cải của người lương thiện và vơ vét tài nguyên thiên nhiên. Con người cũng không còn đặt chiếc gậy xuống hay buông thanh kiếm xuống mà tranh nhau chế tạo bom hạt nhân. Hơn nữa họ cũng không cần phải sử dụng những lời dối gạt và độc ác, cũng không cần phải thuật lại ở nơi này những gì nghe thấy tại nơi khác hầu không làm hại các người này, cũng không thuật lại tại nơi khác những gì nghe thấy ở nơi này hầu không làm hại những người kia, bởi vì hệ thống truyền thông, giáo dục và tuyên truyền thật tinh xảo với các phương tiện và kỹ thuật hiện đại đã thay cho họ để làm cái công việc « thuật lại » ấy.
Vì thế thiết nghĩ nếu muốn bảo tồn được nhân tính con người thì chúng ta cũng nên mở rộng lòng mình giúp cho con voi thật to có thể bước vào để dẫm lên tâm thức mình, đánh thức lương tri của mình, cọ xát thật mạnh vào con tim của mình, hầu giúp mình trở thành một con người đích thật, một con người biết nhìn vào sự bất hạnh của tất cả những sự hiện hữu biết hít thở, bằng con tim rướm máu của chính mình.                     
Christian Maes
  Bures-Sur-Yvette, 27.02.12

Hoằng pháp trong bệnh viện

28/02/2012 12:16 (GMT+7)
Hình ảnh chỉ mang tính minh họa
GN - Mới đây, tôi có dịp vào thăm một cháu bé điều trị ở một bệnh viện chuyên khoa lớn tại TP.HCM. Điều ngạc nhiên là trên những chiếc tủ nhỏ đầu giường bệnh, đều có đặt theo chiều đứng một quyển sách, bọc bìa nhựa đã cũ, do có nhiều người xem. Cầm lên, thì ra đó là một quyển sách tôn giáo. Nhưng không phải là sách Phật giáo, mà là sách của một tôn giáo khác.
Những chiếc tủ đầu giường bệnh khác đều có đặt những quyển sách của tôn giáo khác đó, nhưng dường như có quyển khác với tựa sách mà tôi đang cầm.
Khi có bệnh, phải tìm đến bệnh viện, thì đó là lúc cả bệnh nhân lẫn người nhà bệnh nhân có nhu cầu cao nhất đối với niềm tin tôn giáo. Chắc chắn, điều họ cầu mong là được phù hộ tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ. Một quyển sách tôn giáo đặt trước mặt họ quả là một chiếc phao cứu sinh trong hoàn cảnh bệnh tật bi kịch.
Bên cạnh đó, thời gian nằm bệnh viện là thời gian nhàn rỗi, cả đối với bệnh nhân lẫn người nuôi bệnh. Do đó, hoàn cảnh này rất thuận lợi cho việc đọc sách. Nay có sách để sẵn trước mặt, lại là sách phù hợp với yêu cầu trong hoàn cảnh bệnh tật, thì khả năng bệnh nhân và người nuôi bệnh đọc quyển sách tôn giáo được đặt sẵn bên giường là rất cao.
Người có thể đặt những quyển sách tôn giáo như vậy bên cạnh giường bệnh nhân chỉ có thể là nhân viên bệnh viện. Sau khi quyển sách tôn giáo đặt sẵn đã được bệnh nhân và người nhà nuôi bệnh đọc, tất yếu sẽ có những hoạt động tiếp theo, mà có thể là đi đến trường hợp… vụ việc một vị “Chân tu cải đạo” như trong năm rồi.
Tôi nghĩ là việc đặt sẵn sách tôn giáo bên giường bệnh nhân như vậy không phải chỉ có ở bệnh viện mà tôi vừa đến. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng cũng có thể ở một bệnh viện nào đó các bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý… nhân viên bệnh viện là Phật tử, cũng đã đặt những quyển sách Phật giáo bên giường bệnh để trợ giúp tinh thần người bệnh cũng như thân nhân của họ.
Mong rằng, điều này trở nên phổ biến đối với kinh sách của đạo Phật ta. Đây là một hình thức bố thí pháp, đem lại nhiều công đức cho người bố thí, cũng như lợi lạc, an ủi cho người được nhận pháp thí, đặc biệt là trong hoàn cảnh ốm đau, bệnh tật nặng nề, phải nằm lại bệnh viện điều trị dài ngày.
Trong hoàn cảnh bệnh nhân nằm viện, pháp thí là điều không gì có thể so sánh được. Những bữa cơm, bát cháo từ thiện có thể là đáng quý với những bệnh nhân khó khăn, nhưng pháp thí là đáng quý đối với tất cả mọi người đang đau khổ vì tật bệnh.
Quyển sách của một tôn giáo khác mà tôi bắt gặp trong một bệnh viện chuyên khoa được nói đến ở trên là một quyển sách lưu hành nội bộ, không có giấy phép xuất bản. Nếu phổ biến sách Phật giáo trong các bệnh viện với phương thức tương tự thì chắc chắn Phật giáo chúng ta sẽ thuận lợi hơn nhiều, vì tuyệt đại đa số sách Phật giáo đều được xuất bản theo đúng luật, đương nhiên được phép phổ biến rộng rãi ở mọi nơi.
Kính mong Ban Hoằng pháp Trung ương và các địa phương, các tự viện, tu viện, quý tôn đức, Tăng Ni quan tâm nhiều hơn đến việc hoằng pháp đến đối tượng bệnh nhân trong các bệnh viện, tổ chức biên soạn những tựa sách giáo lý thích hợp với đối tượng này, có tác dụng an tâm, cứu khổ, an ủi người bệnh và gia đình, vận động ấn tống với số lượng lớn, để phục vụ hoạt động hoằng pháp, mà theo tôi nghĩ, là hết sức thiết thực này.

Minh Thạnh