Hiển thị các bài đăng có nhãn 2. CHỦ ĐỀ XUÂN TRONG PHẬT GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 2. CHỦ ĐỀ XUÂN TRONG PHẬT GIÁO. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Chút chạnh lòng ngẫu hứng Mùa Xuân

18-01-2012


Trời sớm vào xuân, những đêm buồn thao thức, không ngủ được, hơi sương lạnh còn sót lại của mùa đông năm cũ đủ để cơ địa những người nhạy cảm với thời tiết một thoáng vấn vương .
 >Năm Nhâm Thìn 2012 nói về con Rồng
>Ăn Tết nhà Phật có gì lạ không?
>Xuân về tìm hiểu về hoa mai
>Những tiên đoán thế kỷ thành sự thật
Dường như cái giá lạnh của mùa đông phương đông luôn gắn kết với sắc trời mùa xuân trước mắt, là một bước đệm cho cảnh sắc huy hoàng trong nắng ấm. Nó có một chút se lạnh, một chút  khô hanh nhẹ nhàng . Những lúc này người Sài gòn chúng tôi thầm bảo nhau là “Sài gòn ơi ! Gió tết đã về” . Trong đêm khuya tỉnh mịch ấy ,tôi chợt nhớ da diết câu kệ của thiền sư người Phúc Kiến Trung Hoa: Hoàng Bá Hy Vận (?-850):
                               Học Đạo Do Như Thủ Cấm Thành
                              Khẩn Bả Thành Đầu Chiến Nhất Thường
                              Bất Thụ Nhất Phiên Hàn Triệu Cốt
                              Chấm Đắc Mai Hoa Phác Tỉ Hương.
              (Trần Tuấn Mẫn dịch)
                              Vượt khỏi trần lao việc chẵng thường
                              Đầu dây nắm chặt giữ lập trường
                              Chẵng phải một phen sương lạnh buốt
                              Hoa mai đâu dễ ngữi mùi hương.
Nếu như mùa đông luôn làm chúng ta chạnh lòng khoắc khoải là chỉ bởi vì mùa xuân nhờ có nó mà  khởi sắc tỏa hương. Mùa xuân vững vàng ngự trị trên những thử thách nghiệt ngã , có cả mất mác đau thương . Cõi trần thế là vậy. “Ví không có cảnh đông tàn / Làm sao có cảnh huy hoàng ngày xuân”. Ai đó đã thốt lên đầy cảm hứng nhưng rất nhân quà .
Với nền tảng văn chương Việt nam nói chung và văn học Phật giáo VN nói riêng, bốn câu kệ của Mãn Giác Thiền Sư (1052 – 1096) trong bài “Cáo Tật Thị Chúng” cũng  là quá đủ để nói về mùa xuân thế gian:
                                Xuân Khứ Bách Hoa Lạc
                                Xuân Đáo Bách Hoa Khai
                                Sự Trục Nhãn Tiền Quá
                               Đầu Tòng Đáo Thượng Lai.
                 (Cố HT Thích Thanh Kiểm dịch thơ)
                               Xuân đi mang cả một mùa hoa
                               Xuân đến hoa lòng nở với ta
                               Muôn sự thăng trầm qua nước mắt
                              Một dòng tuổi mộmng lại trôi qua.
                              Đâu phải xuân tàn hoa rụng hết
                              Đêm qua sân trước một cành mai.
Nhưng điều  kỳ lạ muốn nói là ở chổ  hai bài kệ của hai vị thiền sư ở hai bờ đất nước khác nhau lại có điểm nhấn  ở hai câu cuối, và nếu trong một thoáng  ngẫu hứng , chúng ta thử ghép lại vào nhau thì tuyệt vời làm sao .Thí dụ :
                                Chẵng phải một phen sương lạnh buốt
                                Hoa mai đâu dễ ngữi mùi hương(-)
                               Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết
                               Đêm qua sân trước một cành mai(-)
Một  ý của vế trước thì nhắc nhở người con Phật luôn phải tự thân trau dồi phẫm hạnh, để tiếng thơm bay được ngược chiều gió  dặm xa. Vê` sau thì khuyên bảo chúng ta  nhân duyên luôn ở trước mặt, chỉ người có đủ đầy đức hạnh mới nhận biết  và nắm bắt , dù là nghịch duyên cũng trở nên thuận duyên.
Ai cũng biết, bài kệ Cáo Tật Thị Chúng không phải là bài kệ nói về mùa xuân và bài kệ ra đời lại không nhằm đúng giữa mùa xuân , mà là một bài kệ Trên Giường Bệnh  Dạy Chúng trước khi thị tịch ! Đây chính là ý nghĩa trên mọi ý nghĩa rất thâm sâu của  tư tưởng Phật giáo. Không rõ bài kệ của thiền sư Hoàng Bá Hy Vận ra đời  nhằm vào hoàn cảnh nào  nhưng  rõ ràng  hai tư tưởng đã bắt gặp nhau ở tinh thần vượt thoát , nổ lực tự tánh .
Đó là nguyên do để tôi chợt nhớ đến  thiền sư Hoàng Bá Hi Vận và Mãn Giác Thiền sư mỗi độ xuân sang. Nhất là trước những biến động, trắc trở giữa đời thường, nỗi nhớ ấy  lại càng  thêm mãnh liệt.
Thơ-Kệ của thiền sư Phật giáo  sao lại dễ dàng đi vào tâm khãm con người   và đáp nhẹ vào văn học văn chương nhân loại như thế ấy ?Phải chăng  triết lý Phật đà  không phải là một mớ mặc khải  mang nặng hình ảnh thần quyền, luôn làm nhụt chí  nhân loại , văn chương nếu có ca ngợi thì cũng chỉ dừng lại ở ngưỡng tôn giáo. Thơ-Kệ của các thiền sư Phật giáo  bước qua ngưỡng cửa  thiền môn, đi vào tận những chốn sâu thẵm trần đời, làm hành trang gợi nhớ  một tinh thần tự chủ, một Phật tánh độc lập vốn hằng có ở mỗi chúng sanh. Mượn hình ảnh sinh diệt – đến rồi đi của thiên nhiên , như hoa mai – mùa xuân để nói về những  mùa xuân- hoa mai bất diệt ! Mà sinh-diệt, đến rồi đi ở đây hoàn toàn không có bàn tay tạo hóa nào can thiệp. Sao mà thấm thía vô cùng tận ! Đó há chẵng phải  là sức mạnh đầy tính nhân văn lẫn siêu thực mà rất thực của cuộc sống. Như vậy, thơ kệ Phật giáo  còn là nguồn cảm hứng vô biên cho những khám phá mới của thời đại ,như chính cốt cách , căn bản giáo lý Phật đà hơn  hai mươi lăm thế kỷ trước.Và đó cũng chính là sự mặc định Phật giáo không phải là một tôn giáo.
 Mùa xuân phương đông nói chung và của Việt Nam chúng ta nói riêng, luôn gắn liền với  hình ảnh Phật giáo bao đời nay mà dường như nói đến mùa xuân mà không nói đến Phật gíáo (Lễ Chùa Đầu Xuân) là không còn  mùa xuân vậy. Đó là điều chắc chắn. Đạo lý Tứ Ân Phật giáo  đã un đúc nên tinh thần thờ cúng Tổ Tiên – Tưởng Nhớ Ông Bà trong những ngày xuân thật vô cùng  ý nghĩa .Ngay như Ông Táo Công mà chúng ta còn cúng tiển đưa nữa là ai. Họ không phải là ma quỷ, là  kẻ khuất bóng âm cung, mà là những người mở mang bở cõi, những người sanh đẻ ta ra mới có ngày nay. Tưởng nhớ  họ chính là gìn giử tính cách giáo dục  ngàn đời trong tinh thần dân tộc , một dân tộc phương đông.
Hai vế thơ cuối của hai vị thiền sư  vừa nêu trên , rất ứng hiện với những người con đất Việt đang sống xa xứ. Nhất là những nước đông Âu. Người ta kể rằng ở  những nơi này , tuy giao thừa mồng một tết không được như quê nhà nhưng điều chắc chắn và gần như phải có là ai ai cũng đều mong muốn đến ngôi chùa gần nhất lễ bái và xin lộc đầu năm. Ngôi chùa dù ở đâu vẫn là nơi che chở hồn dân tộc – Nếp sống muôn đời của Tổ Tông (Thơ Ôn Mãn Giác). Hình ảnh này  rất cuốn hút người bản địa và họ cũng dễ dàng hòa nhập với người Việt chúng ta đón mừng  xuân mới. Điều này có nghĩa rằng họ luôn đi tìm những cái gì họ  thiếu hoặc không có, nhất là tinh thần tương trợ, sống quần cư  và đặc biệt truyền thống  thờ cúng Tổ Tiên của người Việt chúng ta. Như vậy tinh thần dân tộc  người Việt xa xứ vẫn luôn bắt nguồn từ ngôi chùa , vì ngôi chùa đã gìn giữ tất cả niềm tự hào đó để có tất cả hôm nay dù là ở xứ người lạnh giá.
Bà con người Việt chúng ta ly tán, xa xứ có rất nhiều nguyên do , nhưng  tinh thần dân tộc, truyền thống Uống Nước Nhớ nguồn thì vẫn chỉ có một . Đó là hình ảnh ngày tết . Vậy nên khi đọc lên hai vế thơ trong ý nghĩa này chúng ta mới hiều hết  những vui buồn của nhiều mãnh đời khác nhau . Tôi rất ấn tượng  khi nhìn những tấm hình chụp  mái chùa Việt chìm sâu trong  lớp tuyết dày, không gian chung quanh xám xịch, chư Tăng và Phật tử đều co ro trong những bộ áo ấm dầy nhiều lớp. Vậy mà nhìn lên  chánh điện, một khung  cảnh mới ấm áp làm sao. Đức nghiêm từ ngồi đó mĩm cười nhìn   hàng con Phật  co ro trong niềm tin chánh pháp, trong tinh thần dân tộc ngàn năm.
                    Nếu chẵng một phen sương thấm lạnh (?)
                      Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết (?)
Đọc đi đọc lại rất nhiều lần mà nếu cũng chỉ hai câu  đó thôi , sao lòng vẫn  chạnh thương , cảm hoài  nhưng rất mạnh mẻ dứt khoát , khẳng định rằng mùa xuân vẫn còn mãi bên ta dù đã phải chịu một mùa đông giá rét.   
GiácĐạoDƯƠNGKINHTHÀNH                                                                                                                                                                     Ban Phật Giáo Việt nam
                                             Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam


<><> <><><> <><><> <> <><> <>
Dương Kinh Thành

Mùa xuân nào cho cây Bồ đề đất Việt

19-01-2012

Khi những con én ríu tít gọi cành cây thức giấc sau một mùa đông dài lười nhác thu mình tránh rét, là thời khắc rạo rực nhất cho vạn vật hồi sinh. Những chồi non bắt đầu ló dạng từ những thân cây tưởng chừng như già cỗi, hóa ra là đất trời và vạn vật đều xoay vần trong vòng tròn sinh, trụ, dị, diệt và rồi sinh,…

1.Từ cái thuở ban sơ mà hoàng kim của đạo Phật Việt Nam với hoàng thành Luy Lâu, nơi được coi là trung tâm Phật giáo đào tạo Tăng tài cho Trung quốc để rồi sau đó chịu tiếng rằng có sự truyền giáo ngược từ quốc gia này, bởi duyên phận của Phật giáo Việt Nam vốn long đong cùng với số phận của người tình trăm năm là dân tộc Việt.
Phật giáo của những thế kỷ trước và sau tây lịch đó của Việt Nam tuy không được ghi rõ là thuộc truyền thống nào nhưng chắc chắn một điều nó đã đến đây từ Ấn Độ.

Cùng với thời kỳ cha ông ta tiếp nhận nền văn minh Hán học, dòng Phật giáo từ quốc gia này đã chảy ngược về đất Việt với quy mô một trong những tôn giáo uy thế đương thời, với nền tảng tin Bụt vốn có, người Việt đã sẵn sàng đón nhận một cách có chọn lọc và tôn giáo khế lý khế cơ này đã trở thành tôn giáo riêng của người Việt Nam.
Phật giáo ấy là dòng Phật giáo Bắc truyền.

Bên cạnh đó, suốt chiều dài lịch sử Nam tiến của dân tộc, người Việt đã thừa hưởng và tiếp nhận nhiều dòng văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo bản địa trong đó có Phật giáo mà đặc biệt nhất là dòng Phật giáo Nam truyền, để từ đây Phật giáo Việt Nam kiện toàn đầy đủ hai nhánh chính của cây Bồ-đề đất Phật.
Và đây chính là điểm độc đáo nhất của Phật giáo Việt Nam mà ít quốc gia nào có được.

Đạo Phật của Việt Nam cho đến hôm nay có đầy đủ hai trường phái chính được kết thành từ hai dòng truyền Nam-Bắc của Phật giáo gốc Ấn Độ, thừa hưởng đầy đủ nét tinh túy đặc trưng của cả hai dòng truyền Phật giáo, chính điều này đã tạo ra sự cân bằng đặc sắc đáng tự hào nhất cho đạo Phật của dân tộc Việt Nam.
Cân bằng trong đặc tính phát triển của Phật giáo Bắc truyền nhưng không phát triển quá đà, cân bằng trong đặc tính truyền thống của Nam truyền nhưng không quá bảo thủ, chúng hòa quyện và tương tác, bảo vệ nhau làm thành một Phật giáo riêng của người dân đất Việt.

2.Cây Bồ-đề trên mảnh đất Việt Nam có chủ nhân là đầy đủ hàng ngũ tứ chúng đệ tử Phật lấy căn bản trên nền tảng Phật giáo truyền thống, với hàng ngũ xuất gia đầy đủ Nhị bộ đại Tăng, đặt tiêu chuẩn sinh hoạt Tăng-già trong truyền thống giới luật cả Thanh văn giới và Bồ-tát giới.
Bên cạnh đó, hàng ngũ tại gia cũng thọ lãnh năm giới căn bản theo Phật giáo truyền thống và Thập thiện Bồ-tát giới v.v…
Đặc biệt hơn, sự lớn mạnh một cách có tổ chức của chúng tại gia thể hiện sự hòa hợp nhất quán là hệ thống Gia đình Phật tử. Một lực lượng hộ trì chính pháp đắc lực đã từng “làm nên chuyện” trong lịch sử đạo pháp của dân tộc Việt Nam.

Trong khi một số nước đang chịu sự khiếm khuyết gần như vĩnh viễn một phần trong nhị bộ đại Tăng, và một số nơi khác đã vô tình đánh mất giá trị quý báu của một trong ba viên minh châu làm thành Phật giáo, tức vai trò Tăng bảo, mà Nhật Bản là một ví dụ điển hình.
Và sự khiếm khuyết như vậy đã cho thấy một sự thật rằng có cái gì đó chênh vênh chưa hoàn hảo đúng như vóc lực vốn có của thế đứng Tam bảo trong đạo Phật.
Bởi lẽ Tam bảo theo ý nghĩ thi thiết nhất là sự tôn kính Phật, sự học và hành theo giáo lý, và một thứ làm nên ý nghĩa thi thiết này là tổ chức đoàn thể Tăng-già.
Nói chung là nhân tố làm ý nghĩa Tam bảo này mang tính hoạt động là Tăng-già. Tăng-già là đoàn thể duy trì hình ảnh, nhân cách đức Phật, duy trì pháp của Phật đã nói bằng cách truyền trao giáo lý. Tăng-già là đoàn thể sống hòa hợp, với những thành viên giành trọn đời mình thực tập triệt để giáo lý ấy để hướng về mục đích tối thượng.

Nói cho đúng, đối với con người của dân tộc Việt Nam, yếu tố Tăng bảo được biến tấu một cách rất riêng nhưng đặc biệt có tính then chốt ràng buộc, thường thấy nhất là người Phật tử cả người không phải Phật tử, không cần hiểu gì những ý nghĩa cao siêu, mà với họ, hễ đã là một nhà sư thì tất nhiên không “phá trai phạm giới” (theo đúng nghĩa đen là không ăn mặn và dĩ nhiên là không lập gia đình) và hễ đã phá trai phạm giới thì không còn được công nhận là một nhà sư.
Có lẽ bởi nơi cái xứ sở mà thực phẩm chư Tăng không có được từ việc khất thực, thì “tam tịnh nhục” chỉ còn là điều nằm trong sách vở, và nếp gấp trong suy nghĩ của người Việt Nam như thế đã được hình thành từ tinh thần từ bi triệt để và lối sống mô phạm theo giới luật nhà Phật bởi truyền thống các sư tăng người Việt.

Nhìn chung trong các quốc gia theo truyền thống Phật giáo, Việt Nam là nơi hội đủ các điều kiện, sự có mặt đầy đủ bốn chúng đệ tử Phật, sự vững chắc với giềng mối của thế đứng ba chân, thế gian trụ trì Tam bảo, hay khẳng định một cách cụ thể hơn theo tinh thần giới luật là: “giới luật còn thì Phật pháp còn”.
Và một điều quan trọng nữa là mối quan hệ có tính chất ràng buộc bền chặt của bốn chúng trong Phật giáo Việt Nam. Tất cả điều đó là cơ sở để có thể tự tin mà khẳng định sự vững vàng vốn có của Phật giáo nơi xứ Việt này.

3.Thế giới đang kỳ vọng và sẽ nhìn thấy một sức sống của Việt Nam trong thời kỳ mới với những bước tiến mỗi ngày như đang “thay da đổi thịt”, sự thay đổi đó không chỉ cục diện ở lãnh vực nào mà nó có tác dụng dây chuyền đến tất cả những lãnh vực làm nên diện mạo Việt Nam.
Diện mạo mới mẻ đó đang được mong chờ dĩ nhiên không phải là thứ nửa Tây nửa Tàu mà phải là cái gì đó mang đầy đủ nét đặc trưng, ưu việt của dân tộc.
Và tôn giáo đồng hành với vận mệnh dân tộc trên hai ngàn năm lịch sử văn hóa và văn minh đó không tôn giáo nào khác hơn Phật giáo.
Sở dĩ phải dẫn dắt dài dòng như thế này để muốn nói lên một điều rằng, xã hội đang vận hành theo chiều hướng phát triển, và tôn giáo tất nhiên cũng nằm trong quỹ đạo đang vận hành đó.
Liệu nó có vận hành theo với quỹ đạo hay vì những lấn cấn gì mà bị đẩy lệch khỏi cuộc chơi, và một điều quan trọng hơn, liệu sự phát triển của xã hội như thế có làm Phật giáo đánh mất thứ gì hay không cũng là một câu hỏi cần phải đặt ra để tiên liệu, khi mà ta đã nhìn thấy một vài vết đổ ở một số nước.

Tất nhiên, một vết đổ nào đó của Phật giáo Việt Nam nếu có, sẽ không là một vết đổ đã từng được thấy chung quanh ta. Tuy nhiên khi cơn gió lốc đi qua nó sẽ là nguy cơ cuốn đi mất nhiều thứ, nếu chúng ta, những chủ nhân của cây Bồ-đề đất Việt không quan tâm đến những điều nền tảng.

Và như thế, hơn bao giờ hết chính vào lúc này đây, biết dựa vào những giá trị truyền thống để thừa hưởng và phát huy những chất liệu tinh hoa mà chư hiền tổ tiên đã thiết lập hai ngàn năm qua là cách lựa chọn khôn ngoan nhất cho người con Phật trên xứ sở này, nơi có truyền thống Phật giáo dung hòa, nơi có đầy đủ tứ chúng đệ tử Phật, nơi có truyền thống với đầy đủ nền tảng Tam bảo hay nói rõ hơn, nơi mà tinh thần giới luật dù xã hội có phát triển đến mức nào cũng phải nhất luật tuân thủ.

Chính khi có thể giữ được những giá trị tinh túy như thế mới cho phép người Phật tử nhìn về một tương lai, nơi mà Phật giáo nước bạn nhìn vào sẽ thấy ở chúng ta một Phật giáo có hai truyền thống từng được coi là xung khắc nhau ở một thời điểm lịch sử nào đó, đang hỗ tương nâng đỡ, thúc đẩy tương trợ nhau một cách ôn hòa như tính chất vốn có của tinh thần nhà Phật.
Bởi vì, đã qua rồi thời tranh cãi của lịch sử phân chia giáo phái, thời gian đã đủ dài cho mọi thứ lắng yên, để chúng ta có thể nhận ra rằng tất cả những quan điểm dù phản hay đồng nhau đều căn cứ trên tâm nguyện làm rõ, và làm tròn nền tư tưởng thâm trầm, uyên viễn của đức Thế Tôn.
Nhận ra được điều đó là hóa giải hết những quan điểm hẹp hòi, để những người con Phật chấp nhận, tôn trọng nhau, để cùng xây dựng một ngôi nhà Phật giáo chung vững chắc.
Và như thế, sự bài xích bất cứ truyền thống Nam hay Bắc của một vài cá nhân dù nhân danh “phá tà hiển chính” là cách tự đào cho mình một cái hố chôn nhanh và hiệu quả nhất, vì cá nhân ấy đã đi sai tinh thần đạo Phật của Việt Nam.

Đạo Phật của Việt Nam, đã hơn hai ngàn năm chắt lọc và hoàn thiện, đã đến lúc chúng ta có đủ bản lính để phát huy triệt để nội lực của mình. Sự bắt chước bất cứ mô hình nào dù đó là một mô hình đã được thể hiện thành công đem ứng dụng trên đất Việt cũng sẽ trở nên khập khiểng bởi chắc chắn một điều, với đối tượng là con người Việt Nam thì không thể chuyển tải thành công một truyền thống Phật giáo Tây Tạng hay Nhật Bản…
Và một điều vô cùng quan trọng hơn là những người con Phật của xứ sở Việt Nam hôm nay cần có đủ tự tin đến mức có thể tự hào để khẳng định nội lực truyền thống Phật giáo của chúng ta, thứ đã được lịch sử dân tộc sàng lọc lựa chọn đến phần tinh túy, nếu đã đến lúc cần khẳng định, sẽ bật dậy một cách ngoạn mục, phi thường.

Mùa xuân đến để cành cây tưởng đã hóa khô trở mình đơm chồi trổ lá, cây chẳng phải hóa khô, chẳng phải già cỗi mà đang ẩn mình trong một dạng khác của sự sống của loài cây cỏ.
Cây Bồ-đề của mảnh đất Việt Nam, đạo Bồ-đề của dân tộc Việt đã từng “trải qua bao độ hưng suy” cùng với lịch sử dân tộc, nhưng “có nguy mà chẳng mất”.
Nếu là mùa xuân, cây đơm chồi trổ lá cho đời, nếu chẳng còn mùa xuân cây quay về vun đắp “nội lực”cho mình, bởi thịnh suy chỉ như “lộ thảo đầu phô”, là một dòng sinh diệt của vô thường.

Quán triệt được quy luật của vô thường, thấu suốt được cái lẽ của vô thường, bằng cái tuệ của Bát nhã Ba-la-mật, thì chính ngay trong cái sự thật miên trường của vô thường ấy sẽ ló ra một cái “thường” của chân như, đó là lời thơ xuân của một nhà sư Việt:

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.


Và như thế, mùa xuân nào khác ngoài mùa xuân này đây, một mùa xuân siêu việt thời gian, siêu việt khái niệm phân chia của đất trời, mùa xuân tâm linh miên viễn của Phật giáo nói chung và của lòng người con Phật trên mảnh đất Việt Nam nói riêng. Mùa xuân ấy là mùa xuân cho cây Bồ-đề.
Theo: Tập san Pháp luân 78

Có những mùa Xuân tật nguyền


28-01-2012
Thế là mùa xuân đang chuẩn bị quay gót trở lại, từ giã chúng ta về nơi đã xuất phát. Ít nhất mùa xuân cũng đem niềm vui đến cho chúng ta trong ba ngày nguyên đán nhiều ý nghĩa.
Thế nhưng, cũng chỉ tromg ba ngày ấy thôi có biết bao điều để  thao thức , trăn trở  cho chính nhịp sống  và bản thân mỗi con người. Có người thì  mãn nguyện  cho dự ấm no hạnh phúc, sum vầy bên cháu con sau bao nhiêu năm trường  lận đận truân chuyên gian khó. Có người thì bên cạnh niềm vui  lại còn thiếu một  khoảng trống tạm hồn nào đấy mà suốt bao nhiêu năm trường ấp ủ vẫn chưa có dịp khỏa lấp. Có nguời thì  hường  những mùa xuân trong thương nhớ, trong chia xa, thậm chí trong mất mát đau thương…v…v…Như vậy trong chúng ta  từ bao đời  nay vẫn là những mùa xuân không trọn vẹn. Phải thế chăng mà người con Phật chúng ta thường hay chúc nhau câu nằm lòng VẠN SỰ CÁT TƯỜNG NHƯ Ý  ?
Nhưng có lẽ, trên hết và hơn bao giờ hết , dù có  hưởng một mùa xuân trọn vẹn hay còn  lận đận bôn ba, theo nhịp sống cơm áo gạo tiền, thì vẫn còn có vôi vàn mãnh đời khác thiệt thòi hơn chúng ta thệt nhiều, nhiều lắm. Chúng ta vô tình hay  hữu ý quên đi để một mai khi chợt chạm đến ngưỡng cửa của tận nơi sâu kín cõi lòng , mới  phát hiện ra mình đã bị…khuyết tật !
Có lẽ tôi là người đầu tiên phát hiện ra mình là như thế.
Nhiều năm rồi, cứ cận những ngày giáp tết, cho đến hết mùng ba, tôi hay trách móc đức cháu cũng tên Thành sao mà không biết chúc tết hay nghĩ tết. Ba ngày tết là ba ngày nghĩ nhưng đó cũng là ba ngày ngủ vùi  trong bốn vách lá nghèo của hai mẹ con. Là công nhân vệ sinh quét đường cho sạch đẹp mùa xuân

Công Nhân quét đường sạch đẹp mùa xuân
Tôi không còn cơ hội để sửa sai cái khuyết tật của mình  khi mới  mùng bốn tết vừa rồi, cháu đến xin tôi một tấm lịch Phật để treo ở nhà (mướn) mới, xa lắm, chắc là  cậu cháu sẽ ít khi gặp nhau nữa rồi. Giá cả thuê nhà mướn không còn đủ sức lo, đành phải đi xa hơn. Sao tôi lại không nghĩ ra được những điều này , phải chăng vì là khuyết tật bản thân nên mình quên mình đang mang nó ?
 Đêm giao thừa, sau khi cúng vía sanh thần đức Phật Di Lặc ở chùa về, ngồi một mình khai bút đầu xuân, sau đó đọc thư chúc tết email ,không hiểu sao  nhấp chuột lại trượt thẳng đến tấm hình ba đứa bé trai ngồi bán đu đủ ven vệ đường ngày cuối năm

Ba đứa bé ở Tân Nhựt
với lời chú thích của Việtnam.net “Ba đứa bé trai ở xã Tân Nhựt (bình Chánh) hồn nhiên, ngây thơ : Cô Chú ơi! Mua dùm tụi con đi. Đu đủ nhà đó…”lòng tôi chợt se lại ! Hồi 28 tết vừa rồi, sai mấy em đi chợ mua hoa quả về chưng trong ba ngày tết, có hai trái đu dủ bầm dập , la mắng thì các em bảo mua giúp dùm bà cụ  ngồi bán cùng đứa cháu . Tôi bào nếu muốn giúp thì mua về ăn, chứ mua cúng  mà bầm dập như vầy thì chưng mang tội thêm ! Các em tôi lặng thinh vì biết rằng tôi luôn ăn tết trong eo hẹp. Bây giờ bất chợt nhìn thấy hình ảnh này tôi mới hiểu các em tôi không phải nghĩ như vậy mà chỉ vì đó là cái khuyết tật của tôi.
Chạnh nhớ tới những trẻ em nơi xứ người mà cuối năm vừa qua người ta chọn làm “10 bức ảnh gây cảm xúc nhất “, mới thấu hiểu lời Phật dạy về phước báo,  về cảm thọ hạnh phúc nó mới da diết đến làm sao. Đáng nói hơn hết là do cái khuyết tật đã che lấp đi tầm nhìn đại lượng của mình với chung quanh. Một em bé Châu Phi Ader Salaad (2 tuổi) đang ốm tong teo bời cái đói triền miên và hai em bé nương tựa nhau mà sống trên đống phế liệu

 Hai em bé nương tựa nhau sống giữa bãi phế liệu 

Cậu Bé Aden Salaad 2 tuổi ( ành Chan Kwok Hung).
Mùa xuân bên cạnh chúng ta còn có vô vàn cảnh khổ mà dường như chúng ta quên rằng  trẻ em đất nước mình đã từng một lần trãi qua. Nước mắt  của chúng ta ngày ấy cũng là nước mắt của  các em những  nơi này, sự “hoán chuyễn” trong duyên nghiệp để cảnh báo với thế nhân rằng tất cả đều cũng có thể xảy ra đối với mình, nếu ngay bây giờ không chịu huân tập những  chủng tử từ bi – trí tuệ- hùng lực để nuôi cưỡng nó lớn lên một cách chắc chắn, làm chổ dựa  an nhiên cho mình, cho cộng đồng ngày sau.
Cái chủng giống Từ Bi-Trí Tuệ- Hùng Lực ấy nếu chưa là con nhà Phật thì cũng nên vận dụng theo quán tính  trong nếp sống  bản thân mình  đối với cộng đồng chung quanh. Đây cũng chính là một sai lầm lớn của tôi xưa nay khi luôn  muốn mình đi xa hơn trong nhận thức có giới hạn, cho đên khi giáp tết vừa rồi những hình ảnh sau đây đã thức tỉnh tôi:

    Trời mưa lớn đột ngột , ông lão ăn xin vất vã chống đỡ.

            Cô gái trẻ đột nhiên xuất hiện.



Cô che dù và giúp ông cụ trong khi có rất nhiều người thờ  ơ đứng nhìn.

                        Mưa lớn quá nên cả hai người đều ướt sũng.

         Sau đó họ cũng tìm được chỗ trú.

Và đây chính là cô gái trẻ tốt bụng( giữa) cùng các bạn của mình.


Những hình ảnh này được một cư dân mạng Tô Châu-Trung Quốc chụp được  và mỗi ngày đã có hơn 24.000 lượt truy cập.
Người hành khất nơi nào, ở đâu cũng có, bất luận nước nghèo giàu , cho nên không còn là điều phải e ngại giấu diếm. Ngược lại nêu lên để đánh  thức lòng nhân bàn  của con người , nhất là những ai có cái khuyết tật như tôi đã kể. Có điều cách ứng xử phải như thế nào trườc một số phận hẩm hiu hơn chúng ta nhiều. Vì vậy hy vọng câu chuyện về một bà lão 8o tuổi, vào một hiệu ăn sang trọng , móc trong túi ra tờ 10 ngàn đồng nói với cô nhân viên phục vụ rằng “ Tui chỉ có chừng này tiền, cô cho tui một chén canh nóng để húp cho đỡ đói”. Không lâu sau cô nhân viên bưng ra chẵng những có chén canh nóng đầy mà còn có cơm và thịt. Bà lão e ngại nòi “Tui không cần thịt đâu cô ạ.Tui chỉ có 10 ngàn thôi”. Cô nhân viên lễ phép nhỏ nhẹ “Dạ, tất cả không tính tiền đâu cụ ạ. Cụ cứ ăn thong thả nha”. Tất cả rối ai cũng phải già, phải có lúc chật vật . Nhìn thấy trước  một bước như vậy chính là biết trước được mãnh đất  mà mầm giống từ bi mình đã gieo sẽ mọc lên xanh tốt biết chừng nào

Cô Nhân Viên Phục Vụ và Bà Cụ 80 tuổi
Như vậy con người khuyết tật, tôi khuyết tật trong tâm hồn, trong cái nhìn lâu nay . Nhưng mùa xuân, hoa mai  có khuyết tật không ? Người học Phật rất dễ nhận ra điều này, nhưng với sự hiện bày của vạn vận và cách nhìn thế gian thì sẽ rất khó nếu  nói rằng có! Tuy vậy cũng có một cái nhìn khác qua so sánh sự thay đồi , khác nhau của mùa xuân, bây giờ,  năm qua, hay lâu hơn nữa .Ngay cả hình thức  đón xuân cũng vậy, khác nhau nhiều lắm và cũng mất dần đi tinh túy dư vị ngày xuân nhiều lắm. Ngay như cánh hoa mai, từ năm cánh  cơ bản nguyên thủy, theo thời gian lai tạp 8, 10, 16. 18 cánh , và tết vừa rồi  một nhà chơi cây cảnh ở Phú Nhuận còn có cây  mai hoa đến 120 cánh !

Bông Mai 120 cánh
Vì vậy nếu nói bông mai cũng bị  khuyết tật thì e không phải phép. Tuy nhiên hãy đọc hai dòng phản hồi của bạn đọc báo Tuổi Trẻ sau đây chúng ta sẽ thấy  ngay điều chúng ta muốn nói .”NKN: Sao giống cúc mâm xôi quá, cái gì cũng phải có đặc trưng riêng của nó, chứ tràn lan lai tạp như vậy thì đâu phải thuần chủng mai vàng nữa.Mất hết giá trị và ý nghĩa”Một bạn đọc khác.”KIỀU ĐỨC HÙNG: Mai nhiều cánh đã có từ lâuhiện nay dân chơi mai không còn chuộng nữa, lý do hay rụng, bông mau tàn, nhiều cánh quá không còn giống bông mai nữa, giống này thường do lai ghép vì không thể thụ phấn đậu trái”.


Tiễn mùa xuân đi, còn lại trong tim mỗi chúng ta  là những ký ức đẹp về  một mùa xuân nguyên vẹn  thưở xa xưa, và khi cuộc sống  sung túc thì chung quanh đó  còn có những biến thể phát sinh  không ngờ, nhưng cái đáng lo nhất chính là  cái khuyết tật trần gian . Chúng ta không bi quan về một mùa xuân khuyết tật mà chỉ lo cho cái tâm hồn ta khuyết tật sẽ dần dà biến tất cả trở thành khuyết
Dương Kinh Thành

Xuân Nhâm Thìn: Mô hình hoá trang Phật Di Lặc


31-12-2011
Khi đặt bút viết những dòng này, lòng tôi luôn miên man về một khoảng thời gian xa xăm nào đó, ở phương trời tây âu, với những tâm hồn yếu đuối , và sống lệ thuộc vào niềm tin tôn giáo, dù là một tôn giáo áp đặt, luôn cầu mong cho mình , cho con cái mình một cuốc sống ấm no và hạnh phúc, hay ít ra có ai đó “bổng dưng “ cho quà. Ông già Noel ra đời!

Để Đức Phật Di Lặc Đi Vào Đời Thường            

 Theo thời gian, và cũng nương theo các thương thuyền, chiến thuyền  đi “khai mở” đất  đai, xâm chiếm thô bạo  các nền văn minh    khác và áp đặt ngang ngược quy chế thuộc địa. Ông Già Noel nhờ đó cũng  đến được các nơi , và cho đến ngày hôm nay, Ông già Noel đã ngang nhiên “diễu hành” đầy đường phố Sài gòn đầy vẻ kiêu hảnh như thuở đất nước mình còn bị nô dịch dưới thời  thực dân Pháp, mỗi khi lễ Noel, ngày mà tín hữu Kytô tin là ngày giáng sinh của Chúa Jesu !
Người có chút lòng tự tôn dân tộc thì thoáng chút buồn; người có chút tri thức lịch sử thì cảm thấy  đau nhói  con tim. Chỉ có những người bàng quang,  vô tư lự  hay những nhà kinh doanh , thương mại, thì hí hửng mừng vui ra mặt, ra luôn tiền sảnh các  cửa các nhà hàng , khách sạn ! Dù thiên hạ không biết lai lịch ông già Noel ở đâu, có thật  không. “Món Ngon Mỗi Ngày “ của HTV7 cũng sốt sắng vào cuộc . Năm rồi dành nguyên cả một tháng 12 để giới thiệu những món ăn giáng sinh. Năm nay tuy không có nhưng  cũng có món “Trứng Cúc bách Hoa”cô Diệu Thảo muốn chúng ta thức đêm  mừng giáng sinh ăn!  Nếu tôi nhớ không lầm thì  bác sĩ từng khuyên chúng ta chớ ăn vào lúc nữa đêm kia mà ! Chưa hết đều, HTV cón dàn dụng nhiều chương trình gọi là mừng giáng sinh , thậm chí không ngần ngại  làm cả những chương trình giáng sinh dành cho thiếu nhi nữa đấy. Những ai có theo dõi thường xuyên sẽ thấy ngay.
 Những câu “Merry Chrsimas”như đã trở thành một  thứ ngôn từ thể hiện cho đẳng cấp vậy. Câu này nhiều năm nay cũng nghiễm nhiên có mặt trên sóng đài truyền hình Việt Nam (VTV) với đầy đủ vế “Merry Chrismas & Happy New Yea”bất chấp hiện nay, nhiều nơi trên thế giới và ngay tại nước Mỹ , người ta chỉ còn dám  viết và chúc nhau “Holidays Season”thay vì “Christmas Season”“Happy Holidays”thay vì “Merry Chrismas”.
Vì vậy, khi nỗi buồn  vể một sư cô ở chủa Đình Quán  hăng hái và nô nức sang nhà thờ chúc mừng Noel và hát thánh ca ,gây nên một hình ảnh phản cảm, khó chịu và  gây bất bình trong  nhiều giới Phật tử chúng ta, còn âm ỉ trong lòng thì tôi đã muốn rơi nước mắt khi đọc bài của đạo hữu Nguyễn Thị Ngọc TRâm với tựa đề “NỤ CƯỜI DI LẠC NĂM 2012 SẼ ĐI ĐẾN NHỮNG ĐÂU”. Câu hỏi của đứa con bạn Ngọc Trâm cũng là câu hỏi của rất nhiểu thế hệ phật tử có tâm huyết với  chánh pháp. Có người đã nằm xuống rồi mà trong lòng vẫn còn ấp ủ những hoài bảo đẹp về  hình bóng Di Lạc Tôn Phật   xuống phố giữa mùa xuân. Ước mơ nhỏ nhoi, đâu có gì  to lớn mà sao trãi nhiều cuộc đời , đứng dưới bóng là cờ ngũ sắc, chưa có ai làm được ?
 Đức Phật Di Lạc của chúng ta có lý lịch hẳn hoi, có dáng vấp phương đông thuần khiết, có tâm đại hỷ-đại xả bao la và nhất lá nụ cười luôn tươi nở trên đôi môi xuân sắc. Đêm giao thừa chính là thời khắc  chúng ta đón mừng Ngài  đản sanh bên mùa xuâ rộn rả. Đức Phật Di Lạc của chúng ta đến với mọi người không bằng thù oán, tiêu diệt . Ngài sẽ đến với các em thiếu nhi , nhất là những em có hoàn cảnh  đặc biệt  mà không cần dựa vào một loại “dịch vụ” ăn theo nào , bởi vì nếu  Ngài hiện hữu bằng những thứ ấy  thì cũng có lúc sẽ chết khi những thứ ấy không còn . Ngài luôn ở trong  tim mọi người mà . Ngài hiện diện hài hòa trong nếp sống và văn hóa  Việt Nam, không theo mùa, và sẽ chẵng bao giờ mất đi  hay bị  photocopy cái dáng vè bề thề ,khó bị “đụng hàng” của ngài .
Tết năm rồi, tôi những tưởng  ước mơ chính đáng , đưa đức Di Lạc vào đời thực đã trở thành hiện thực khi  CLB Hoằng Pháp Trẻ thưc hiện hóa trang cho ba “Ông” Phật Di Lạc hết sức bất ngờ.
Dù rằng, cách hóa trang và y phục tự chế còn rất thô sơ, thiếu bố cục chặt chẻ và không nhất thiết phải là chư tăng xuất gia  mà cũng có thể chọn từ những Phật tử “có bề thế”  nhiệt tình  tham gia. Tôi tin rằng những hoạt động này  người phật tử chúng ta luôn sẵn lòng.
Chúng ta hảy xem vài hình ảnh đinh kèm theo đây để mở lòng đôi chút , cùng chia vui với  những tâm huyết  đáng kính này. Tất nhiên , “mai sau dù có bao giờ” công lao đầu này vẫn phải dành riêng cho Đại Đừc Chủ Nhiệm CLB Hoằng Pháp Trẻ. Hy vọng từ mô hình này PG các nơi tùy duyên  tạo dựng nên hình ảnh  đáng nên có này trong  nếo sống cộng đồng Phật giáo.
 Hình 1:Thầy TRí Lực& Thầy Duy Nhiếp hóa trang thành  Di Lặc Phật.
  
 HÌnh 2:Thầy Tánh Khả hóa tranh  Di Lặc Phật chúc tết các bé bất hạnh.
                          Hình 3:Di Lặc đang giao lưu, ca hát.
                                        (Ảnh nguồn daitangkinhvietnam)
Khi nói đến  việc này , tôi thường gởi gấm niềm tin vào GĐPT và bây giờ còn có thêm các CLB Thanh Niên Phật Tử. Đây là  công việc  rất phù hợp với tuổi trẻ, mong các bạn vì một mơ ước chánh đáng của hàng triệu người con Phật chung tay  thực hiện. Tôi biết có những GĐPT có những đội múa lân rất hùng mạnh , không kém  các đội lân chuyên nghiệp là bao, đi múa chúc tết các nhà đạo hữu, đoàn sinh. Rồi lại còn có những GĐPT  mà ngay đêm giao thừa chia nhau đi  lì xì cho những người  không nơi cư ngụ, đang nằm vất vưởng đó đây ở chơ, lề đường…Các bạn làm được những chuyện ấy, thì chuyện thay nhau hóa trang thành Di Lặc nào có khó khăn gì, lại còn đem đến bao ngườn vui  lớn .
Vài năm trở lại đây, tôi thấy một vài nhóm hóa trang thành vị thần tài, ông địa, có trống lân kèm theo, đi đến từng nhà chúc tết để nhận thù lao. Việc ăn theo đó dị đời mà người ta làm được , còn chuyện đức Di Lạc đâu phải hoang đường vô vị.
 Xem ra để tạo dựng , khơi nguồn một ý thức – hình ảnh văn hóa không phải đơn giản , nhưng nó sẽ nhanh chóng thành hiện thực  nếu có lòng quyết tâm , lòng quyết tâm ấy  sẽ trở thành sức mạnh nếu được chấp cánh bởi hàng triệu con tim người con Phật cả nước. Để mỗi mùa xuân về, ngoài niềm vui đoàn tụ , hân hoan với đất trời, người con Phật còn được  chào đón một hình ảnh thân thương  của Ngài Di Lạc  .
 Chúng ta hãy cùng nhau cổ vũ và ủng hộ cho mô hình này.
Từ khóa: Xuân Nhâm Thìn_Mô hình_ Phật di Lạc

Dương Như Tâm