Hiển thị các bài đăng có nhãn 2.1. BÀI VIẾT CẬP NHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 2.1. BÀI VIẾT CẬP NHẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

VẾT THƯƠNG

1. Vết thương. Ta có thường phải mang những vết thương không. Một hôm nào xắt gọt bất cẩn không chánh niệm, ta tự cắt mình một nhát, đứt tay. Một vết thương xuất hiện. Đó chỉ là một vết thương nhỏ, những vết trầy xước ngoài da. Một bà mẹ sinh con theo phương pháp phẫu thuật: một vết thương lớn. Những vết cắt trong da trong thịt. Có một loại vết thương khác trong t
im, người ta gọi là vết thương lòng. Vết thương này đau không, lâu không. Với loại vết thương không phải vết thương lòng, ta có thể chịu đựng, chịu đau, rịt thuốc một thời gian từ vài ngày đến một tuần mười bữa thì hết đau, vết thương lành. Còn vết thương lòng. Vết thương lòng thì sao. Ta chỉ đau lòng thôi, chỉ cảm thấy buồn bã, khổ sở. Nhưng tại sao ta phải đau lòng, buồn bã, khổ sở nhỉ. Như là có một cái gì không bình thường ở đây. Do đâu mà ta phải nhận lãnh vào thân vết thương lòng. Do kì vọng, ngộ nhận và lầm tưởng? Ta tưởng rằng người như thế nhưng hóa ra không phải. Ta tưởng bạn đời là thích hợp với ta nhưng hóa ra không phải. Và có lẽ vì tình cảm là món nợ lớn nhất cho nên khi đã đặt chân vào con đường đó, thì thể nào, chẳng chóng thì chày, ta sẽ phải nặng mang những vết thương lòng.
2. Một vết thương máu vẫn còn rỉ chảy. Mình có xem đó là vết thương không. Nếu mình không xem đó là vết thương. Đó chỉ là một sự bất đồng trên đường đời, một mâu thuẫn đã được đẩy lên đến đỉnh điểm, dẫn đến kết quả là to tiếng, xô xát (một sự ngược đãi về nhiều mặt). Thì bây giờ mình chọn thái độ im lặng. Im lặng và từ khước hết tất cả mọi thứ, nghĩa vụ cũng như quyền lợi. (Có cái gọi là quyền lợi ở đây không?! God!) Nuôi con là một nhiệm vụ cao cả và đầy giá trị. Sẽ cứ để cho con được ở gần cha, cho đến khi tình hình thay đổi. Còn mình, sẽ đóng cánh cửa bên đó lại, và từ từ, tập cho quen dần một thái độ mới, một thái độ phải khác hơn, như dửng dưng, “máu lạnh” hơn chẳng hạn. Ta có cái bản tâm trong sạch của ta, mà kì thực là không gì có thể làm cho dơ bẩn được, trừ khi sáu căn của ta ta để cho nó dính mắc, trôi lăn theo sáu trần. Sáu căn, sáu trần, ta sẽ nhớ rõ điều này mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút...
Còn nếu mình xem đó là một vết thương. Đó có phải là vết thương không. Vết thương ư. Vết thương thì đâu có gì khó, chỉ cần rịt thuốc vào thôi. Nhưng đây là vết thương gì và mình cần phải rịt những thuốc gì. Vết thương gây ra do sự đi quá giới hạn về bên ngoài của người bạn đời? Vết thương đã lâu về sự không hòa hợp trong tất cả mọi điều của cuộc sống, vết thương về sự bất công và không giúp đỡ? Nhiều vết thương quá. Đối với những vết thương này, ta cần phải dùng những loại thuốc nào đây. Về sự đi quá giới hạn: chấm dứt đời sống hôn nhân. Tôi là vợ chứ không phải là mẹ để cứ phải mãi đi dỗ dành anh những chuyện không đâu. Hôn nhân là một hiệp ước giữa cả hai bên. Nếu một trong hai bên phá vỡ hiệp ước thì sao, thì cứ để mặc kệ à, dễ thế, vậy người ta còn lập ra hôn nhân để làm gì. Còn những vết thương khác: chấm dứt sống chung vì như thế là bất công lắm, và không đáng phải như vậy. Nên đáng cái nào đáng hơn kia. Còn nuôi con. Thì mình cứ nuôi như bình thường. Ráng làm sao để cho con đi du học bằng học bổng. Ráng trang bị cho con kĩ năng sống và ngoại ngữ, tin học, để cho con đi vào thế giới cao rộng ngoài kia. Dạy cho con theo Phật nữa. Cho con gái con trai mua quà về thăm bà nội chúng, còn mình thì sao. Mình thì có lẽ mình sẽ chẳng bao giờ thăm thú gì nữa cả, bấy nhiêu đó đã đủ rồi, bấy nhiêu đó đã đủ chưa, God. Có những điều mình làm được nhưng mình cũng sẽ không làm, vì mình không muốn làm.
3. Buổi sáng chủ nhật. Ngồi ở đây, ở chỗ Na đang chơi theo nhóm Sói con, trong khu vườn chung đầy cây cỏ mát xanh nơi cửa ngõ ra vào thành phố bằng đường bay, trong khi Hàm đang ở nhà ngoại, mình muốn luyện kĩ năng nghe. Nghe chỉ để nghe mà thôi.Và những cái còn lại, thấy chỉ để thấy, ngửi chỉ để ngửi, nếm chỉ để nếm, xúc chạm chỉ để xúc chạm. Như vậy ý của mình sẽ tránh được tham lam sân hận và si mê, đúng không, God. Từng chiếc xe chạy qua trên con đường này. Xe máy có tiếng của xe máy, xe hơi có tiếng của xe hơi. Rồi tiếng còi. Có tiếng lớn, tiếng nhỏ. Và tiếng người xao động quanh đây. Xe cứ chạy ngang qua, hết chiếc này đến chiếc khác không dứt như nước của một dòng sông đang chảy mau về biển rộng. Có cả còi của một xe cấp cứu đang cố lướt nhanh. Cấp cứu. Cấp cứu là một trường hợp khẩn cấp, đặc biệt. Liệu mình có đang rơi vào tình trạng cấp cứu hay không. Thật tình mà nói, nếu đúng là mình đang rơi vào tình trạng cấp cứu thì cũng chẳng có ai có thể cứu được mình đâu, kể cả bạn đời. Chỉ có một người có thể cứu được, đó là chính mình. Hãy tự cứu mình bằng cách phòng hộ sáu căn. Hãy tự mang tặng chính mình bản tâm trong sạch không cấu nhiễm vĩnh hằng. Bằng cách nào đây. Thầy đã bảo rồi, bằng hơi thở, chỉ đơn giản vậy thôi. Đơn giản, nhưng có dễ không. Phải luyện đấy nhé. Theo hơi thở và giữ gìn sáu căn. Giữ hơi thở và giữ luôn bản tâm trong sạch vốn có ở mình. Rồi vượt qua tất cả chướng ngại, vượt qua tất cả chướng duyên, hoàn thành nhiệm vụ: nuôi con và dạy con thành người theo Phật.
4. Cảm xúc là một dòng sông sáu nhánh trôi chảy theo nhân duyên. Ta hãy làm sao phải biết bơi lội để vượt lên trên sáu nhánh sông chảy xiết đó mà đừng để phải bị nhấn chìm. Hãy sống đúng trong cuộc đời và đừng để cảm xúc dẫn lôi mình đi, đừng bao giờ để mình trở thành nô lệ của cảm xúc. Hãy vững bước đi nhanh trên con đường chân lí, bỏ hết những gì không cần làm nặng túi hành trang, làm chậm bước chân mình.
Chúc bạn thành công.
Phương An

Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012

Mười phương thức chánh niệm khi tham gia các mạng xã hội

Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển như vũ bảo của công nghệ thông tin, sự phổ biến của phương tiện truyền thông internet, các trang mang xã hội, nơi giao lưu, chia sẻ của mọi người, nhất là giới trẻ, ngày càng nở rộ. Trong đó, phổ biến và nổi tiếng nhất là trang Facebook và trang Twitter, gần đây xuất hiện thêm trang Google Plus (Google +). Đấy là chưa kể đến các diễn đàn, các trang mạng xã hội chỉ đơn thuần chia sẻ về hình ảnh, hoặc video clip, và các trang blog cá nhân... Nói chung, các trang mạng xã hội đã tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người chia sẻ những tâm tư, tình cảm, cập nhật những thông tin sinh hoạt của cá nhân, chia sẻ hình ảnh, video, kiến thức, quan điểm… đến với bạn bè, người thân và nhiều người khác thông qua mạng lưới liên kết tuyệt vời do các nhà mạng cung cấp. Nhờ các trang mạng xã hội mà nhiều người tìm được niềm vui trong cuộc sống, tìm được bạn bè, thậm chí là tìm được người bạn đời, hoặc người tri âm tri kỷ cho mình… Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có không ít người gánh chịu phiền lụy khi tham gia các trang mạng xã hội, hoặc là giết hầu hết thời gian trong ngày của cá nhân vào các trang mạng xã hội để rồi bỏ bê công việc, không hoàn thành trách nhiệm, hoặc có người buồn khổ, sầu bi vì những vấn đề ở trên mạng xã hội… Thậm chí có người sử dụng các trang mạng xã hội để phát tán những tài liệu, những thông tin, hình ảnh không lành mạnh. Có thể nói, các trang mạng xã hội như là một con dao hai lưỡi, nếu sử dụng đúng cách thì nó sẽ đem lại lợi ích rất là nhiều, nếu không biết sử dụng thì nó cũng gây hại không ít. Để nâng cao hiệu quả và phát huy tính tích cực, thế mạnh khi sử dụng, tham gia các trang mạng xã hội. Lori Deschene, người sáng lập trang web Tinybuddha.com và cũng là chủ sở hữu của tài khoản @TinyBuddha trên trang Twitter đã đưa ra mười phương thức để sử dụng các trang mạng xã hội một cách có chánh niệm. Sau đây là nội dung của mười phương thức ấy:
1. Tự biết những chủ ý của mình
Có bảy yếu tố tâm lý mà chúng ta cần phải luôn ghi nhớ trong lòng khi chúng ta đăng nhập vào các trang mạng xã hội, đó là sự hàm ơn, chú ý, tán thành, đánh giá đúng, ca ngợi, tự tin và quán xét toàn diện. Trước khi chúng ta đăng tải thông tin gì đó lên mạng, chúng ta phải tự hỏi chính mình: Có phải mình đang muốn được mọi người biết đến, đang muốn mọi người thừa nhận? Có phải là có nhiều thứ hơn nữa mà mình có thể làm để đạt được nhu cầu đó?
 2. Hãy thể hiện một cách trung thực về bản thân
Trong thời đại của sự quảng bá thương hiệu cá nhân này, hầu hết chúng ta đều có một vị thế mà chúng ta muốn phát triển hoặc duy trì. Những thông tin đăng tải có chịu sự thúc đẩy của tự ngã thường nhắm vào một vấn đề gì đó; tính trung thực thì xuất phát từ trái tim. Hãy bàn về những điều thực sự quan trọng với bạn. Nếu bạn cần lời khuyên hoặc hỗ trợ thì mạnh dạn nêu lên. Chúng ta sẽ dễ dàng thể hiện bản thân hơn khi chúng ta trung thực với chính mình.
3. Tự hỏi chính mình trước khi đăng thông tin
Nếu bạn dự định đăng tải gì đó, bạn phải luôn tự hỏi: Nó có đúng không? Nó có cần thiết không? Nó có phù hợp không?
Đôi khi chúng ta đăng tải những tư tưởng mà chúng ta không hề nghĩ đến vấn đề là liệu những tư tưởng ấy có thể tác động đến toàn bộ khán, thính, độc giả của mình như thế nào. Chúng ta dễ dàng quên đi số lượng bạn bè đang đọc những thông tin đăng tải của mình. Hai trăm người có thể trở thành một đám đông khi họ hiện diện bằng xương bằng thịt, nhưng trên mạng internet thì con số ấy dường như không đáng kể. Cho nên trước khi bạn chia sẻ, hãy tự hỏi: Thứ mình chia sẻ đây có thể gây hại cho ai không?
4. Thỉnh thoảng đăng tải những thông tin về lòng tốt.
Tôi thương tự hỏi khi tôi đăng nhập vào mạng Twitter: "Hôm nay tôi có thể làm gì để giúp đỡ hay hỗ trợ các bạn?”. Sử dụng các trang mạng xã hội là một cách đơn giản để bạn tặng mà không mong đợi đáp trả lại điều gì cả. Thông qua cách tiếp cận để giúp đỡ một người lạ, bạn tạo ra khả năng kết nối mang tính cá nhân với những người đang theo dõi mà bạn có, nếu không thì bạn chỉ biết một cách sơ sài.
5. Trải nghiêm bây giờ, về sau mới chia sẻ
Có một tình trạng phổ biến là mọi người chụp ảnh với điện thoại cá nhân và tải nó lên Facebook hoặc gửi email cho một người bạn liền sau đó. Điều này khiến cho sự trải nghiệm tại một thời điểm của cá nhân và sự chia sẻ chồng chéo lên nhau. Việc làm này còn giảm thiểu sự thân mật, bởi vì toàn bộ những người theo dõi bạn tham gia vào những cuộc hẹn hoặc những cuộc hội ngộ của bạn trong thời gian thực. Như việc chúng ta muốn giảm thiểu các đoạn độc thoại trong tâm để chúng ta tiếp xúc trọn vẹn với thực tại hiện tiền, chúng ta cũng có thể làm tương tự với sự tường thuật bằng các thiết bị kỹ thuật số của mình.
6. Năng động nhưng không phản ứng lại
Bạn có thể nhận email cập nhật thông tin bất cứ khi nào có hoạt động diễn ra trên một trong những tài khoản của bạn ở trên các trang mạng xã hội, hoặc bạn có thể thiết lập cho điện thoại di động của bạn cung cấp cho bạn những lời thông báo. Điều này buộc bạn phải dành nhiều thời gian để phản hồi trở lại trong suốt cả ngày, dù cho bạn có muốn hay không. Có một cách tiếp cận khác là chúng ta chọn thời điểm để gia cuộc đàm luận, và sử dụng thời gian lúc mình không đăng nhập vào các trang mạng xã hội để lựa chọn những giá trị mà ta có thể đem đến cho mọi người.
7. Hãy phản hồi với tất cả sự chú tâm
Mọi người thường chia sẻ những đường liên kết mà không thực sự đọc những thông tin đó, hoặc đưa ra những lời bàn về các thông tin đăng tải khi họ chỉ nhìn lướt qua chúng. Nếu món quà lớn nhất mà chúng ta có thể trao tặng cho một ai đó là sự chú ý của mình, thì các trang mạng xã hội cho phép chúng ta trở thành một người vô cùng tốt bụng. Chúng ta có thể không đủ sức để phản hồi lại tất cả mọi người, nhưng hãy phản hồi một cách cẩn trọng để có thể tạo ra sự khác biệt.
8. Hạn chế sử dụng mạng xã hội thông qua các thiết bị điện tử di động
Trong năm 2009, Trung tâm nghiên cứu Pew phát hiện ra rằng, có 43% người dùng điện thoại di động truy cập vào mạng lưới internet trên thiết bị của họ nhiều lần trong ngày. Đó là điều mà cựu nhân viên Microsoft, Linda, đã nói đến như là “sự chú tâm khoái chí liên tục” - khi bạn thường xuyên đăng nhập vào các mạng xã hội để chắc chắn rằng bạn không bỏ lỡ bất cứ điều gì. Nếu bạn quyết định hạn chế truy cập internet thông qua điện thoại di động, bạn có thể bỏ lỡ cơ hội trực tuyến (online), nhưng bạn sẽ không bỏ lỡ những thứ phía trước bạn.
9. Tập bỏ qua
Có thể không tử tế lắm khi không để tâm đến một số thông tin hay sự chia sẻ nào đó, nhưng chúng ta cần thời gian nghỉ ngơi để tử tế với chính mình. Nên tự cho phép mình để cho những gì thuộc về ngày hôm qua thì cho chúng trôi qua đi. Theo cách này thì bạn sẽ không cần phải “bắt kịp” tất cả những thông tin cập nhật trên mạng xã hội khi mà chúng đã trôi qua, thay vào đó là sự toàn tâm toàn ý vào những cuộc đàm luận hôm nay.
10. Hãy vui thích với các trang mạng xã hội
Đấy chỉ là những gợi ý để cảm nhận sự có mặt trong giây phút hiện tại và có chủ tâm khi sử dụng các trang mạng xã hội, nhưng chúng không phải là quy tắc cứng nhắc và cố định. Hãy làm theo những bản tính tự nhiên của riêng bạn và vui chơi với mạng xã hội. Nếu bạn sống có chánh niệm khi bạn ngắt kết nối với thế giới công nghệ, bạn sẽ có tất cả những công cụ bạn cần để có được sự chánh niệm khi bạn trực tuyến.
Lori Deschene
Minh Nguyên phỏng dịch
(Nguồn: Nguyệt san Giác Ngộ, số 191, ra tháng 2/2012)

Dưới chân Ngài Địa Tạng

04/03/2012 05:41 (GMT+7)


GN - Một chiều ngang qua vùng Hải Lăng - Quảng Trị, tôi dừng chân viếng tượng Địa Tạng lần Ngài “trở lại” cõi nhân gian. Địa Tạng - kho tàng Tâm, nơi sinh ra các Pháp. Địa Tạng kinh - cuốn kinh quý báu trong Phật giáo được mười phương chư Phật tới dự thính ghi lại nội dung quan trọng: khi Phật nhập diệt đã phó thác cho Bồ-tát Địa Tạng giáo hóa cõi Ta-bà. Điều đặc biệt, Bồ-tát nguyện cứu vớt hết thảy chúng sinh nơi địa ngục. Giờ đây tôi đang ngồi dưới chân Ngài, thật logic - nghĩ về cái chết.
Người ta sẽ đặt câu hỏi: Là một người trẻ, nghĩ đến cái chết bây giờ có quá sớm? Tôi sẽ trả lời: Không quá muộn song chẳng còn sớm nữa. Cái chết đến với chúng ta bất cứ lúc nào. Không ai dám khẳng định người đang hấp hối sẽ chết trước một thanh niên khỏe mạnh. Cái chết sẽ đến thình lình, chóng vánh. Nó khiến chúng ta không kịp trở tay, không kịp nói những điều cần nói và làm những điều cần làm. Tần Thủy Hoàng thời thịnh trị dễ chừng xoay được cả trái đất nhưng việc tìm thuốc trường sinh thất bại. Cuối cùng cái chết thảm thương đến với ông ngoài dự liệu. Không ai sống mãi, biết mình sẽ chết, tại sao không chuẩn bị? Đời người, có mấy chục năm để chuẩn bị, nhưng người ta lại dùng thời gian đó sống vì bản ngã nên ngược với Đạo. Nếu nghĩ đơn thuần, chuẩn bị cho cái chết nghĩa là viết tờ di chúc phân chia của cải, và cụ thể hơn: lo trước đám tang mình, thì hết sức sai lạc.
Xin dẫn một ví dụ. Dượng tôi là giảng viên đại học môn Lý. Một người hiền lành, sống giản dị, cần kiệm, đặc biệt không tin thế giới tâm linh. Nghỉ hưu trên chục năm thì dượng phát hiện ung thư phải mổ hai lần, bệnh viện trả về. Thời gian chưa đầy tháng, ông bình thản tỉnh táo lo việc chung gia đình và lên kế hoạch đám tang. Sợ phiền đến con cháu và mọi người, ông dặn không được để dài ngày. Lời dặn quan trọng thứ hai là không nên tụng kinh...
Suýt nữa ông phạm sai lầm trầm trọng trong lời dặn thứ hai này. Hay nói khác đi, nhờ duyên phước nên con ông đã mời các cô ở chùa về tiếp dẫn. Các cô không phiền gì gia đình, đến cả bữa cơm cũng tự lo lấy, thay nhau niệm Phật từ 7 giờ sáng (lúc dượng tôi hấp hối) đến 6 giờ tối. Vài người bắt đầu thấy khó chịu, bảo ông bị “ép” nghe A Di Đà Phật nên không muốn đi. Tội nghiệp, các cô đến niệm Phật trong những giờ phút cuối cho dượng tôi an lòng về bên kia, ai ngờ dượng vẫn còn... khỏe. Hiểu ý vài người thân của dượng, các cô lặng lẽ ra về. Sáng hôm sau nữa ông mới mất, nghe tin các cô lật đật tới liền. Ngoài đời có ai tự nguyện giúp vô tư như vậy? Chỉ có tấm lòng bi nguyện của những người tu mới làm được thế. Các cô dặn để dượng tôi nằm yên, tuyệt đối không ai chạm vào trong vòng ít nhất 8 giờ, và các cô niệm Phật trong suốt thời gian đó. Thêm một nguyên cớ để số ít người nhà dượng tôi bằng mặt mà không bằng lòng.
Không khó để làm rõ điều này. Bên khoa học cho biết nhiều trường hợp chết lâm sàng, có thể sống lại. Còn Phật giáo giải thích rất thỏa đáng. Khi một người ngừng thở, phải cần từ 8 đến 12 giờ để thần thức rời hẳn thân xác. Có thể ví người mới ngừng thở như nồi nước sôi vừa nhấc khỏi lửa, phải chờ khoảng vài phút thì “lặng sóng”. Cũng vậy, người chết (lúc chưa đủ ít nhất 8 tiếng), ai đụng vào liền đau đớn, sinh phiền não sẽ ảnh hưởng không tốt cho sự tái sanh. Người cố chấp cho rằng các nghi thức Phật giáo chỉ dành cho những ai tu hành; mình không tu cớ gì thực hành các nghi thức tâm linh như trên. Nhầm! Cái chết là sự chung, đâu riêng chúng sinh hay Tăng Ni và Phật tử.
Trong đám tang của dượng, tôi đã “cãi” một người; đến cùng người này vẫn muốn thấy linh hồn tròn méo thế nào mới tin. Tôi hỏi, có phải tất cả kiến thức có trong đầu anh hầu hết do học/đọc sách. Anh gật. Vậy anh đã đọc về sự sống sau cái chết, đã đọc phía bên kia cõi sống, đã “xem” cảnh giới thân trung ấm? Anh lắc. Vậy sao tôi đưa anh tất cả loại sách quý đó do các vị Lama hóa thân, các vị am tường về cõi âm viết ra, sao không ngó qua. Rất khó! Tôi biết không phải cứ thông minh uyên bác là thẩm thấu tâm linh, bởi Phật đi vào mỗi người bằng đường tâm chứ không phải qua tri thức.
Giáo điển Phật giáo thừa nhận việc thân trung ấm của người đã mất vẫn nhận biết được tâm niệm của người sống; điều này cũng áp dụng được giữa người sống với nhau nếu có nội lực tâm linh. Ví như ai đó ghét, căm thù ta nhưng ta luôn luôn cảm thương, một lòng nguyện cho họ tốt hơn, lúc gặp lại tự dưng sự oán ghét và căm thù đó được hóa giải. Ấy là sóng tâm như khoa học vẫn dùng một dạng sóng khác kết nối các điện thoại và nhiều loại máy lại với nhau không hạn định thời không.
Dượng tôi thật may phước, vừa được các cô niệm A Di Đà Phật suốt 8 tiếng, lại có con cháu thành tâm hộ niệm cầu nguyện vãng sinh. Riêng tôi luôn luôn “nhắn nhủ” ông hãy hướng về vùng sáng. Phía ấy có vùng xám đen và vùng sáng trắng. Vùng sáng chính là Phật tiếp dẫn. Người chết trải nghiệm như vừa qua núi, linh hồn trở thành... mê hồn - hoang mang, phước đức lại mỏng nên thường sợ hãi chạy qua vùng đen - do nghiệp sinh, lâm vào địa ngục. Cho dù không tu, con người ta hấp hối và suốt nhiều giờ sau thần thức mới rời khỏi thân xác, danh hiệu A Di Đà Phật cứ dội vào tâm não; chỉ cần mang duy nhất câu Phật hiệu qua bên kia đã thật nhiều hy vọng siêu sanh. Bao nhiêu ý nghĩ trôi qua đầu; người sắp chết nghĩ về con cháu, nghĩ về vợ/chồng, bè bạn v.v…, ý nghĩ nào đến ngay ở khoảnh khắc sau cùng chấm dứt sự sống, sẽ ảnh hưởng một cách “nghiêm trọng” đến kiếp sau. Người sắp chết nhập tâm A Di Đà Phật, xác suất tạp niệm len vào những giây cuối đời càng ít, cơ hội được Phật độ càng lớn.
Tôi chẳng rõ dượng mình đã sanh về  đâu, song ít ra dượng tôi không vô cùng đau đớn trong khoảng thời gian thần thức chưa rời hẳn. Đó là niềm an ủi lớn khiến tôi đỡ ân hận khi dượng đau yếu lại không có ở bên động viên an ủi.
Ai cũng sẽ hao hụt người thân. Hiểu đúng về phía bên kia cõi chết, chúng ta sẽ bớt đau khổ. Chính sự khóc than thương xót người chết quá bi thiết sẽ khiến họ luyến níu không bước nổi về vùng sáng mà chui vào màn tối ngạ quỷ, hoặc ở lại “sống” bên mồ mả của chính họ. Đa phần những vong hồn (còn ngoài mộ, lang thang) là những “người” đánh mất bảy cơ hội Phật và Bồ-tát đến tiếp dẫn trong bốn mươi chín ngày. Các nhà ngoại cảm ở Viện Tiềm năng về con người từng trò chuyện với nhiều trường hợp chết đã mấy trăm năm. Không dứt được cái tình, họ ở lại quanh quẩn bên người thân, chẳng ngờ cứ chứng kiến cảnh con cháu chít chắt nối nhau về trời mà mình vẫn còn đứng đó.
Chuẩn bị cho cái chết đúng nghĩa, là sống đời thanh đạm không tham ái, không để tám ngọn gió đời cuốn theo dòng ô trược uế nhiễm; là xả bỏ tham sân si, thanh lọc thân tâm, đập vỡ bản ngã trương phình che khuất cả mặt mũi tầm nhìn. Chuẩn bị cho cái chết, chúng ta sẽ không còn sợ hãi cái chết nữa. “Nếu bạn thương yêu những cái cây, mặt trời hoàng hôn, những con chim, chiếc lá rơi; nếu bạn nhận biết được những người đàn ông và phụ nữ đang rơi nước mắt, những người nghèo khổ, và thực sự cảm thấy tình yêu trong quả tim của bạn, liệu bạn sẽ sợ hãi cái chết? (Krishnamurti, Cuộc đời trước mặt).
Trên trời có bao nhiêu vì sao? Trái đất thậm chí còn nhỏ hơn cả chấm sáng dày đặc trên bầu trời. Con người trên Trái đất đó, hãy tưởng tượng, bé xíu biết bao. Bây giờ các nhà khoa học đã tìm ra dấu hiệu của sự sống trên sao Hỏa. Điều đó cho ta mường tượng về cuộc sống của lớp người nào đó từng tồn tại cho tới lúc sao Hỏa khô kiệt bởi văn minh công nghiệp, họ đã di trú tới một hành tinh khác (như Trái đất chẳng hạn). Trải qua một thời gian dài sao Hỏa hồi sinh, trong lúc Trái đất đang già cỗi... Cuộc sống trần ai chỉ là lát cắt đồng đại trong thăm thẳm chiều thời gian vũ trụ. Nếu ta chỉ tính “cái chớp mắt” này mà không chịu hiểu con người còn phải trải qua hằng hà sa số kiếp trước và kiếp sau nếu không chịu thực hành đạo pháp, thì sẽ thấy rất nhiều bất công oan trái. Khi chưa thể nhìn xa hơn, hãy sáng suốt nghĩ về sự chết của chính ta; hãy xem đây như một môn học rất bình đẳng với vô vàn các loại kiến thức khác vô tình hay hữu ý chúng ta đã nạp vào não trạng mình.
Nhụy Nguyên

Chủ Nhật, 4 tháng 3, 2012

HT. Nhất Hạnh: Ăn chánh niệm, Sống trong tỉnh thức

 
Thích Nhất Hạnh – vị Thầy nổi tiếng của truyền thống Phật Giáo thế giới đã cùng với tiến sĩ ngành Dinh Dưỡng Học Lilian Cheung chung tay viết nên tác phẩm Savor: Ăn trong chánh niệm, Sống trong tỉnh thức. Nếu đã có cuốn sách này trong tay thì bạn có thể ngồi xuống trong tĩnh lặng, lần dở chậm rãi từng trang một và khám phá thực đơn Thầy dùng mỗi ngày.
Bạn cũng có thể cùng Thầy nhìn sâu vào tình trạng béo phì – một vấn nạn về sức khỏe của thế giới Tây Phương và được Thầy hướng dẫn những phương thức để đổi thay những thói tật ăn uống không lành mạnh.
Thưa Thầy, vì sao trong thời điểm này Thầy lại chọn viết về đề tài tiêu thụ thực phẩm trong mối liên hệ với nếp sống chánh niệm ?.


Chúng ta đang sống trong một thời kỳ chưa từng có tiền lệ trong lịch sử. Nhìn vào thực trạng ở mức độ toàn cầu, chúng ta có thể nhận thấy rằng số lượng người mắc chứng béo phì (thừa cân) lại đông đảo hơn so với số người đói và thiếu ăn (không tiêu thụ đủ lượng dinh dưỡng cần thiết). Những nhà khoa học đã cảnh báo rằng nếu chúng ta không đồng lòng chung sức chuyển ngược lại tình trạng béo phì đang ngày một leo thang thì những người trẻ trong tương lai sẽ có vòng đời ngắn hơn so với thế hệ đi trước.


Hơn nữa, chứng béo phì sẽ làm gia tăng nguy cơ mắc phải những căn bệnh gây nguy hiểm đến tính mạng. Thực trạng này không những gây ra khổ đau cho thân tâm của mỗi cá nhân hay gia đình mà còn ảnh hưởng đến sự lành mạnh của thân tâm xã hội và thế giới. Gốc rễ của vấn đề nằm ngay trong những gì chúng ta tiêu thụ mỗi ngày. Đó không chỉ là thức ăn mà còn là những gì ta thấy, nghe, xúc chạm… và cả môi trường ta đang sống. Giáo lý của Đạo Bụt có thể cống hiến rất nhiều phương pháp để có thể chuyển hóa triệu chứng béo phì. Việc thực tập sống trong chánh niệm sẽ có thể thiết lập lại mối liên hệ giữa thân và tâm và môi trường xung quanh. Phương pháp này chính là chiếc chìa khóa mở rộng cánh cửa, đem đến cho chúng ta có một góc nhìn chân thật về tình trạng thừa cân và giúp mọi người có thể kiểm soát được trọng lượng cơ thể mình. Và chúng ta sẽ không cần phải mất nhiều thời gian đợi chờ. Cơ hội đạt được sự cân bằng, niềm vui và sự bình an trong thân và tâm luôn có ngay đây, ngay bây giờ, ngay trong giây phút hiện tại.

Việc “Ăn uống trong tỉnh thức” đóng vai trò như thế nào trong đời sống của Thầy?
Khi có thể sống chậm lại, tận hưởng mỗi bữa ăn, vui trong niềm vui khi nhận ra mình vẫn còn sống, vẫn còn mạnh khỏe, chúng tôi thấy mình tiếp xúc với đời sống ở một mức độ rất sâu sắc. Tôi rất ưa thích được ngồi ăn trong thinh lặng và tận hưởng từng miếng nhai, ý thức về sự hiện hữu của những người thương chung quanh (tăng thân), ý thức về tất cả những công phu lao tác và tình thương đã có mặt trong chén cơm của mình. Khi ăn theo một cách thức như vậy, không những thể chất vật lý của tôi mà còn phần tinh thần, phần tâm linh cũng đều được nuôi dưỡng. Cách tôi dùng bữa ảnh hưởng đến mọi công tác của tôi trong ngày. Nếu tôi có thể thực tập nhìn sâu vào thức ăn và xem thời khắc đó quan trọng như một buổi công phu thiền định – thiền hành hay thiền tọa – thì tôi nhận ra mình có thể tiếp nhận muôn vàn những tặng phẩm của đất trời. Tất cả hoa trái này tôi sẽ không bao giờ thu hái được nếu thân và tâm tôi không đồng thời có mặt trong khi ăn. Bởi vì trong lúc ăn nếu tâm tôi ngập tràn trong lo lắng, phiền muộn và những bản dự án hay kế hoạch thì khi đó tôi chỉ đang ăn những căng thẳng và sợ hãi. Và điều này sẽ gây ra những thương tổn cho thân và tâm. Vì vậy cho nên, khi ăn chúng tôi thường sử dụng bài kệ sau đây để thực tập:
Ăn cơm nơi tích môn
Nuôi sống cả tổ tiên
Mở đường cho con cháu
Cùng tìm hướng đi lên.

Ăn cơm nơi tích môn
Nhai đều như nhịp thở
Nhiệm mầu ta nuôi nhau
Từ bi nguyền cứu độ.



Bài kệ trên giúp chúng tôi ghi nhớ về việc thực tập chế tác năng lượng chánh niệm trong khi ăn. Nếu năng lượng chánh niệm, năng lượng tỉnh thức đó có mặt một cách sâu dày thì chúng tôi có thể tiếp xúc với tổ tiên ông bà cũng như các thế hệ tương lai. Đồng thời thời gian ăn cũng trở thành những khoảnh khắc lắng đọng giúp chúng tôi ý thức hơn về những hạt giống lành thiện trong chiều sâu tâm thức mà tổ tiên đã trao truyền và tìm ra cách thức để dưỡng nuôi, phát triển và tiếp tục truyền trao những hạt giống đó cho những thế hệ con cháu về sau.


Xin Thầy cho biết về thực đơn hằng ngày ở Đạo Tràng Mai Thôn?


Chúng tôi áp dụng một chế độ ăn chay bổ dưỡng (không dùng bất kỳ sản phẩm nào từ động vật bao gồm cả trứng, sữa). Phần lớn những gì chúng tôi tiêu thụ là ngũ cốc hữu cơ. Bữa sáng sẽ là cháo yến mạch, bánh mì tự làm, đậu hạt tự trồng tại làng, trái cây và đôi khi là các món bún, phở hay xôi. Bữa trưa chúng tôi dùng cơm, rau xào, đậu phụ, các loại đậu xào, canh, rau củ hay salad và một ít đồ ngọt tráng miệng. Món tráng miệng theo kiểu Việt Nam sẽ là chè với các loại đậu và theo kiểu Tây Phương sẽ là bánh ngọt chay. Buổi tối chúng tôi ăn nhẹ với cơm, canh và một ít rau quả.


Thưa Thầy, những trạng thái tâm lý sẽ ảnh hưởng đến thói quen ăn uống của chúng ta như thế nào?


Trong tác phẩm “Savor”, chúng tôi trình bày rất sâu và rất kỹ về bản chất của những cảm thọ và ảnh hưởng của chúng đối với hành vi tiêu thụ thực phẩm. Về cơ bản, khi có một nhân tố kích thích từ bên ngoài, chúng ta sẽ có một phản ứng từ bên trong. Đó cũng là lúc một cảm giác, cảm xúc (cảm thọ) đã biểu hiện trên bình diện ý thức. Cảm thọ đó có thể mang tính chất tích cực như yêu thương, mừng vui, hy vọng,… hoặc mang tính tiêu cực như sợ hãi, giận hờn, lo lắng, phiền muộn, khổ đau... Đối với nhiều người, cảm xúc thường có mối liên hệ chặt chẽ với việc tiêu thụ thức ăn, mặc dù mức độ hay là bản chất của sự vướng mắc đó có thể khác nhau ở mỗi người. Có người có xu hướng ăn nhiều hơn khi vui trong khi một số thì lại ăn ít hơn. Tuy vậy, vấn đề ở đây là nếu chúng ta không dành thì giờ để nhìn sâu vào những cảm giác ưa thích hay thèm khát trong khi ta ăn uống thì những hành vi đó sẽ phát triển và trở thành những thói quen tiêu thụ gây ra tật bệnh cho chính chúng ta. Vì vậy cho nên để duy trì một thân thể khang kiện, chúng ta cần sử dụng năng lượng chánh niệm để nhìn sâu và ý thức một cách rõ ràng về ảnh hưởng của những cảm thọ đối với cách chúng ta ăn uống hằng ngày. Đồng thời, năng lượng tỉnh thức này cũng sẽ giúp chúng ta dần thiết lập được những thói quen lành mạnh và tích cực trong vấn đề tiêu thụ thực phẩm.


Thưa Thầy, vì sao Thầy lại cho rằng người Mỹ nói riêng đang phải vật lộn với vấn đề kiểm soát trọng lượng cơ thể của họ?


So với phần còn lại của thế giới, Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ là một lãnh thổ trù phú và thịnh vượng. Những nguồn thức ăn và đồ uống không tốt cho sức khỏe được đáp ứng một cách dễ dàng với số lượng lớn. Những quảng cáo thương mại cho những sản phẩm này tấn công tới tấp mọi giác quan người tiêu dùng. Họ luôn bị khơi gợi, kích thích tiêu thụ những loại thực phẩm không lành mạnh như là nước giải khát chứa nhiều đường tinh chế, các món tráng miệng chứa nhiều đường và chất béo bão hòa. Bên cạnh đó, tình trạng cơ khí hóa những ngành công nghệ hiện đại, nền văn hóa đề cao quá đáng vai trò của xe hơi cá nhân (trong khi mà nhiều quốc gia ở Âu Châu đã từ lâu luôn ủng hộ, khuyến khích sử dụng những phương tiện giao thông công cộng) đã khiến cho người dân Mỹ Quốc ít vận động hơn. Quá trình đốt cháy calories bị dang dở dẫn đến tình trạng dư thừa một lượng lớn các chất béo trong cơ thể.


Tất cả những nhân tố trên đã dẫn đến hệ quả: béo phí đã là một vấn nạn mang tầm quốc gia. Hơn thế nữa, chúng ta đang sống trong bối cảnh mà khoảng cách về địa lý ngày càng trở nên thu hẹp tỉ lệ nghịch với sự phát triển của truyền hình, máy tính cá nhân, điện thoại di động. Và người trẻ ngày nay đã cố gắng tận dùng tất cả những thành quả khoa học công nghệ để quản lý cùng một lúc nhiều công việc khác nhau. Với một đường hướng tổ chức như vậy, làm sao người ta có thể sống sâu sắc trong từng giây từng phút đời sống mình. Cách sống này đi ngược lại với lối sống chánh niệm. Ta không thể có thời giờ và điều kiện để nhìn sâu vào những vật phẩm ta ăn, những công tác ta làm mỗi ngày để có thể biết đâu là những cách thức đúng đắn để duy trì một thể trọng khỏe mạnh.


Xin Thầy cho biết năng lượng chánh niệm giữ vai trò như thế nào trong nếp sống thường nhật của Thầy?


Chánh niệm có nghĩa là ta biết được, ý thức được những gì đang diễn ra ngay bây giờ và ở đây, ngay trong giây phút hiện tại. Và khi ta sống với “cái biết”, với “cái ý thức” đó một cách thường trực thì cuộc đời ta trở nên đẹp hơn, ý nghĩa hơn. Khi tôi ý thức từng hơi thở vào ra và buông thư toàn thân, tôi có thể tiếp xúc được với niềm vui được sống, được hiện hữu. Tôi cũng có thể tiếp xúc được với tình trạng thân thể mình. Và khi thấy rằng mình vẫn đang mạnh khỏe, lòng tôi đầy tràn niềm biết ơn. Cũng chính nhờ năng lượng của sự Hay Biết này, tôi có thể nhận ra vẻ đẹp của trời xanh trong mát, thấy được nụ cười của hoa, nghe ra tiếng chim đang ca hót. Và tôi còn có thể tiếp xúc với gốc rễ khổ đau của cá nhân mình. Tôi ôm ấp chúng bằng tình thương và sự dịu dàng chứ không phải bằng sự bạo động, đè nén hay là trốn chạy. Bởi vì tôi có thể có mặt thật sự cho chính tôi nên tôi cũng có mặt thật sự cho những người thương xung quanh. Lắng nghe họ với tất cả ý thức một cách sâu sắc và hồi đáp bằng những lời nói yêu thương, truyền trao niềm tin yêu và hy vọng. Bằng cách thức như vậy, tôi có thể buổi sáng cho người niềm vui, buổi chiều giúp người bớt khổ.
Nếu trong ngày Thầy chỉ được lựa chọn một phương pháp để thực tập nếp sống chánh niệm thì đó sẽ là…?


Hơi thở có ý thức. Hơi thở luôn có đó cho tôi. Và khi tôi ý thức về hơi thở thì cũng là lúc tôi đang sống, đang hiện hữu. Tôi có thể thực tập hơi thở có ý thức bất kể nơi đâu, bất cứ thời gian nào, trong mọi trạng huống. Thậm chí ngay cả khi mang mầm bệnh, tôi cũng có thể nằm trên giường, nương theo hơi thở và khởi lên ý thức về thân và tâm. Lúc bấy giờ, tôi sẽ dùng năng lượng của sự Hay Biết để xoa dịu, chữa lành những đau nhức đang có mặt trong tôi. Khi thực tập phương pháp Hơi Thở Có Ý Thức, tôi thấy mình được nuôi dưỡng rất nhiều.


Theo ý kiến của Thầy, làm sao để những tuệ giác của khoa học và đời sống chánh niệm (Đạo Bụt) có thể đi đôi với nhau và tạo nên những tác động đối với việc tiêu thụ thực phẩm hiện nay?


Những kiến thức của Khoa học và một đời sống chánh niệm có thể bổ sung cho nhau trong việc giúp đỡ mọi người có được một đường lối tiêu thụ đúng đắn và duy trì một thể trạng mạnh khỏe và an lành. Trước tiên, chúng ta cần phải xác định đâu là nguồn thực phẩm mà chúng ta thật sự cần. Lúc bấy giờ, chúng ta cần phải nương tựa vào những lời khuyên từ những công trình nghiên cứu khoa học để có một quyết định độc lập. Ta không nên để mình bị ảnh hưởng bởi thói quen ăn uống của một ngôi sao nổi tiếng nào đó hay một công thức ăn uống tân thời đang được đám đông cổ xúy, tung hô. Một khi ta đã biết cần phải ăn gì thì câu hỏi tiếp theo sẽ là: Ăn như thế nào? Ta phải ăn như thế nào để có thể không những nếm được hương vị của thực phẩm mà còn nếm được tuệ giác Tương Tức (sự liên hệ giữa ta với tất cả sự sống xung quanh mình)? Việc thực tập Thiền Ăn (ăn trong chánh niệm) sẽ chính là lời giải. Nếu có sự thực tập kiên trì, miên mật chúng ta sẽ khám phá được rằng sự bình an và niềm phúc lạc là một điều có thật và vẫn luôn có đó trong ta. Nếu ta thực tập thành công, thì ta có thể tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc đó. Hơn thế nữa, khi đó ta còn có khả năng nhìn thấy được khuôn mặt thật, hình tướng thật sự của mình.


Mong Thầy có thể giải thích thêm về những ích lợi mà năng lượng chánh niệm có thể mang lại cho mỗi cá nhân nói riêng và toàn thể nhân loại nói chung?


Sự hiện hữu của mỗi người chúng ta đều có mối liên hệ qua lại với nhau. Khi bạn xúc chạm vào “cái một”, bạn cũng đồng thời xúc chạm vào “cái tất cả”. Tất cả gì những chúng ta tạo tác (bằng lời nói, hành động hay tư duy) cũng đều có ảnh hưởng đến người khác. Vì vậy cho nên, chúng ta phải học cách sống trong tỉnh thức, trong chánh niệm để có thể tiếp xúc với năng lượng bình an nơi tự thân mình. Sự bình an trong thân tâm thế giới khởi nguồn từ đâu nếu không phải là từ sự bình an trong thân tâm mỗi một cá thể. Nếu mọi người đều sống trong chánh niệm, trong tỉnh thức thì tất cả chúng ta sẽ đều hưởng được lợi ích. Năng lượng bình an khi đó không còn thuộc về một cá nhân đơn lẻ mà đã trở thành nguồn năng lượng tập thể (tâm thức cộng đồng). Và chính nguồn năng lượng lớn lao đó sẽ quay trở lại trị liệu và chuyển hóa một cách tích cực những tật bệnh đang có mặt trong những gia đình, tổ chức, đoàn thể, quốc gia và các thế hệ tương lai.
(Thiền Sư Thích Nhất Hạnh - Dạ Lai Hương chuyển ngữ)

Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012

Lễ chùa rằm tháng giêng & cúng sao giải hạn

Ngày đăng bài Thứ Sáu, ngày 06-02-2012
HỎI:
Năm nay người đi chùa lễ Phật trong dịp Tết, nhất là rằm tháng Giêng tăng đột biến, một số nơi đã gây tắc đường. Có ý kiến cho rằng, suy thoái kinh tế khu vực và toàn cầu là nguyên nhân tác động đến hiện tượng trên. Quan điểm của quý Báo đối với nhận định này thế nào? Dịp này, một số chùa có tổ chức dâng sao giải hạn, theo chúng tôi được biết, dâng sao giải hạn không có trong giáo lý nhà Phật. Vậy tại sao tục này nghiễm nhiên tồn tại trong cửa Phật? Mặt khác, nếu cúng sao giải hạn mà thoát được các tai nạn và bệnh khổ thì điều này sẽ trái với nhân quả của nhà Phật. Có người giải thích rằng cúng sao giải hạn đó là "phương tiện”. Xin quý Báo nói rõ hơn về tinh thần phương tiện này. (LÂM THÀNH NHÂN, phố Hòe Nhai, Ba Đình, Hà Nội; DIỆU HỶ)
ĐÁP:
Bạn Lâm Thành Nhân và Diệu Hỷ thân mến!
Rằm tháng Giêng tuy không phải là lễ quan trọng của Phật giáo so với rằm tháng Tư (Phật đản) và rằm tháng Bảy (Vu lan) nhưng trùng hợp với lễ Thượng nguyên và Tết Nguyên tiêu trong dân gian, đồng thời ngày này là rằm đầu tiên của năm mới, thời điểm thích hợp nhất để cầu nguyện an lành cho cả năm, nên thu hút sự tham gia đông đảo của giới Phật tử và toàn thể dân chúng. Thành ngữ “Lễ Phật quanh năm không bằng rằm tháng Giêng” đã nói lên tầm quan trọng của hội rằm tháng Giêng trong tâm thức người Việt và những dân tộc Á Đông nói chung.
Đối với hầu hết các chùa Việt, trọng tâm của hội rằm tháng Giêng là lễ cầu quốc thái dân an, cầu nguyện an lành, khỏe mạnh, no đủ, thịnh vượng và phát triển cho bá tánh và đất nước. Vì thế, ngày càng đông người đến chùa, lễ Phật, cầu nguyện trong hội rằm tháng Giêng là một tín hiệu tốt, thể hiện rõ nét tinh thần “Đạo pháp và Dân tộc”. Khi chùa chiền được tự do sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, được sửa chữa trùng tu to đẹp khang trang cùng với sự quan tâm khôi phục các lễ hội văn hóa truyền thống dân tộc của các cấp chính quyền và nhất là ý thức tìm về những giá trị sống của tổ tiên thông qua các lễ hội văn hóa của nhân dân được đánh thức, thì việc tham dự đông đảo các lễ hội như hội rằm tháng Giêng là điều bình thường. Vấn đề suy thoái kinh tế tác động lên tâm lý của người dân kiến họ quan tâm đến cầu nguyện chỉ là một trong những nguyên nhân thứ yếu. Nguyên nhân chính yếu vẫn là xuất phát từ nhu cầu tìm về những giá trị tâm linh đạo đức truyền thống và mong cầu sự phát triển bền vững trên nền tảng đạo đức và tuệ giác Phật giáo của người dân.
Từ đây đặt ra một thách thức lớn cho chùa chiền và Phật giáo nói chung là trước sự quy hướng ngày càng đông của Phật tử cùng nhân dân thì nhà chùa và Phật giáo sẽ làm gì để hướng dẫn họ một cách thiết thực, minh triết nhất làm hành trang xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn lên. Phật giáo có cả một kho tàng tuệ giác soi sáng cho mọi người đi đến thành công, sống hạnh phúc và an vui chứ không chỉ đơn thuần là cầu nguyện và nhất là khuynh hướng cầu cúng theo kiểu cúng sao giải hạn đang ngày càng gia tăng phổ biến hiện nay.
Đúng như các bạn nhận thức, trong giáo lý của đạo Phật không hề có chủ trương cúng sao giải hạn. Đức Phật đã khẳng định việc cầu cúng thần linh để mong ban phúc, giải hạn là không phù hợp với tinh thần nhân quả, là những việc không đáng và không nên làm. Kinh Trường Bộ I (kinh Sa môn quả, số 2), Đức Phật đã khuyên dạy các thầy Tỷ kheo, những người đã thọ dụng sự cúng dường của tín thí Phật tử, không nên thực hành những tà hạnh như: “chiêm tinh, xem tướng, đoán số mạng, xem địa lý, xem mặt trăng, mặt trời, các sao mọc lặn, sắp đặt ngày lành để đưa (rước) dâu hay rể về nhà, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, hỏi thiên thần để biết họa phước, thờ mặt trời, thờ đại địa, cầu thần tài…”.
Việc cúng sao giải hạn, theo sách Đường thư lịch chí, quyển 18 thì có chín ngôi sao trên trời. Mỗi sao phối trí theo các phương và hàng năm mỗi tuổi chịu ảnh hưởng của một vì sao gọi nôm na là sao chiếu mạng. Do đó mỗi người có năm gặp sao tốt, có năm gặp sao xấu, khi gặp sao xấu phải sắm lễ vật cúng sao, cầu các vị thần linh như Kế Đô tinh quân, La Hầu tinh quân… gia hộ. Trước đây, việc cúng sao giải hạn diễn ra trong các đạo quán của Lão giáo và trong dân gian. Về sau tục này được “phương tiện” đưa vào một số chùa, thường diễn ra từ mùng 8 đến rằm tháng Giêng.
Rõ ràng, tục cúng sao giải hạn ở một số chùa chỉ là phương tiện. Phương tiện nào cũng có hai mặt. Nếu khéo vận dụng, thì nhờ đi cúng sao mà những người ít đi chùa có cơ hội lễ Phật, nghe pháp, cúng dường và nhân đó mà kết duyên với Tam bảo. Ngược lại, nếu chỉ dừng ở cúng sao giải hạn, cầu cúng các tinh quân mong ban phúc thì rơi vào tà kiến, tà mạng và không phù hợp với tinh thần phương tiện của Chánh pháp.
Khá nhiều chùa không cúng sao giải hạn mà chủ trương tụng kinh Dược Sư trong suốt tháng Giêng (hoặc từ mùng 8 đến rằm tháng Giêng), khuyến khích Phật tử tham gia tụng niệm rồi phục nguyện hồi hướng công đức an lành cho Phật tử. Thiết nghĩ, đây cũng là một cách tu tập, cầu nguyện có hiệu quả nhất để đem lại phước báo an lành như mong cầu của mọi người trước thềm năm mới.
Chúc các bạn an lành và tinh tấn!
Nguồn: giacngo.vn
Ảnh: Bảo Toàn (giacngo.vn)
LỜI CẢM NHẬN
Đức Thầy đã chỉ rõ đường lối tu hành chánh pháp cho chúng ta trong các quyển Sấm Giảng Và Thi Văn Giáo Lý rồi.
Trích từ Quyển 1 - Sấm Giảng Khuyên Người Đời Tu Niệm
"Chẳng ham cúng kiếng chè xôi,
 Phật Trời chẳng muốn điều tồi ấy đâu.
 Muốn cho dân hiểu Đạo-mầu,
 Chớ không có muốn chùa lầu cho cao.
 Bao nhiêu cũng biết vàng thau,
 Dạy khôn trần-thế chớ nào dạy ngu."
Trích từ Quyển 2 - Kệ Dân Của Người Khùng
"Nếu dương trần sớm biết ăn năn,
 Làm hiền đức khỏi đường lao lý.
 Học tả đạo làm điều tà mị,
 Theo dị đoan cúng kiến tinh tà.
 Thì sau nầy gặp chuyện thiết tha,
 Đừng có trách Khùng Điên chẳng cứu."
"Đúc Phật lớn chùa cao bối rối,
 Mà làm cho Phật Giáo suy đồi.
 Tu Vô Vi chớ cúng chè xôi,
 Phật chẳng muốn chúng sanh lo lót.
 Tăng với chúng ưa ăn đồ ngọt,
 Nên bày ra cúng kiến hoài hoài.
 Ỷ nhiều tiền chẳng biết thương ai,
 Cúng với lạy khó trừ cho đặng.
 Kẻ nghèo khó tu hành cho thẳng,
 Không cầu siêu Phật bỏ hay sao?
 Lập trai đàn chạy chọt lao xao,
 Bôi lem mặt bày tuồng hát Phật.
 Nay nhằm lúc mùa màng ngập thất,
 Vậy hãy mau bỏ bớt dị đoan.
 Rán giữ gìn luân lý tam cang ,
 Tròn đức hạnh mơí là báu quí."
Trích từ Quyển 3 - Sám Giảng
Ăn không hết lo dành lo cất,
Đem bạc trăm cúng Phật làm chi?
Phật Tây Phương vốn tánh từ bi,
Đâu túng thiếu mà quơ mà tởi.

Giáo khuyên khắp hết đâu đâu,
Bớt điều mị dối mới hầu thấy Ta.
Đừng theo lũ quỉ lũ ma,
Cúng kiếng nó mà nó phải ăn quen.
Chết rồi cũng bớt cóc keng,
Trống đờn lễ nhạc tế xen ích gì.
Trích từ Quyển 5 - Khuyến Thiện
Khuyên bá gia bá tánh việt đàn,
Chớ sát hại mạng người như thế.
Bớt giết vật đặng mà cúng tế,
Gẫm Thánh Thần đâu có tư riêng.
Rủi ốm đau bởi tại căn tiền,
Họăc hiện kiếp làm điều bạo ác.
Phải ăn năn phước điền tạo tác,
Lo thuốc thang khẩn vái Phật Trời.
Nguyện sửa lòng ắt Phật giúp đời,
Xuống phước rộng từ bi hỉ xả.
Đấng Thần Minh công bình trực dạ,
Đâu ăn lo đổi họa làm may.
Mở tâm linh nghĩ đến đọan nầy,
Điều họa phước ấy cơ báo ứng.
Chẳng biết thân còn toan chứa đựng,
Quả bất lành chưa trả vay thêm.
Cầu cho đời sống lặng gió êm,
Đặng bá tánh an nhàn tu niệm.
CÚNG SAO GIẢI HẠN
Hằng năm, cứ vào dịp đầu năm Âm Lịch, nhất là tuần lễ thứ hai trong tháng Giêng mà cao điểm là ngày Rằm, người Phật tử Việt Nam và Trung Hoa thường có lệ đi chùa dâng sớ cầu an cúng sao giải hạn.  Vì là ngày Rằm đầu năm nên các chùa ở trong nước cũng như hải ngọai thường tổ chức lễ rất trọng thể nhằm đáp ứng nhu cầu của quần chúng Phật tử.  Hầu như chùa nào cũng có chương trình cầu an đầu năm.  Tuy nhiên vẫn còn một số chùa nhận ghi danh Phật tử cúng sao giải hạn vào ngày Rằm tháng Giêng.
 Đến thăm một ngôi chùa khá lớn và nổi tiếng tại Hà Nội vào dịp đầu năm vừa qua, chúng tôi cũng thấy chương trình cầu an đầu năm từ ngày mồng tám đến ngày Rằm, có cúng sao giải hạn.  Lễ Phật xong, chúng tôi vào phòng khách thăm thầy trú trì.  Trong phòng cũng khá đông Phật tử đến nhờ thầy xem tuổi, xem sao hạn và ghi danh vào danh sách cần cúng sao giải hạn.  Chúng tôi nghe thầy nói với một Phật tử: “Phật tử năm nay sao Thái Bạch, vào hạn khánh tận, thái bạch là sạch cửa nhà, phải dùng tám ngọn đèn hay tám ngọn nến làm lễ hướng Tây, mỗi tháng cúng vào ngày Rằm, khấn đức Thái Bạch Tinh Quân”.  Tới lượt Phật tử khác và cứ như thế, người vào người ra mang trong lòng nỗi buồn vui đầu năm theo những vì sao đã an bài cho đời mình trong năm.
 Tôi rời chùa mà lòng như không vui, tự hỏi ai đã đem tập tục cúng sao giải hạn vào nơi già lam, biến chốn thiền môn nghiêm tịnh thành nơi thờ cúng Thần Tiên, cầu hên xui may rủi cho con người và cũng thương thay cho những ai đặt lòng tin không đúng chỗ, trao phận mình cho người khác sử lý qua việc khấn sao xin giải trừ hạn xấu.
Thật ra, lễ Rằm Tháng Giêng, còn gọi là lễ Thượng Nguyên là lễ hội dân gian ở Việt Nam, được du nhập từ nước láng giềng Trung Hoa phương Bắc.  Gọi thượng nguyên là cách phân chia theo Âm lịch: thượng nguyên (Rằm tháng Giêng), trung nguyên (Rằm tháng Bảy) và hạ nguyên (Rằm tháng Mười) của hệ thống lịch tính theo mặt trăng.  Theo một số sách Trung Hoa, như Đường Thư Lịch Chí, quyển 18 thì có chín ngôi sao phát sáng trên trời.  Có sách nói là bảy sao, rồi về sau có sách thêm vào hai sao La Hầu và Kế Đô.  Chín vì sao đó là Nhật Diệu, Nguyệt Diệu, Hỏa Diệu, Thủy Diệu, Mộc Diệu, Kim Diệu, Thổ Diệu, La Hầu và Kế Đô.  Có sách thêm sao Thái Bạch nữa thành mười sao.  Chín vì sao này hay còn gọi là Cửu Diệu là các sao phối trí theo các phương, sắp xếp theo mười hai chi và ngũ hành. Theo sách này cho rằng thì hàng năm mỗi tuổi âm lịch chịu ảnh hưởng của một vì sao gọi nôm na là sao chiếu mạng. Do đó có năm gặp sao tốt, có năm gặp sao xấu. Hai sao La Hầu và Kế Đô là sao xấu, là loại ám hư tinh vì hai sao này chẳng thấy được mặt trời.
 Đó là theo tập tục dân gian vốn có từ thời xa xưa mông muội, khi mà con người cảm thấy quá bé nhỏ trước thiên nhiên, bị đủ loại bệnh hoạn mà chưa tìm ra thuốc chữa, cho là vì các vị Thần trừng phạt, nên sợ sệt trước đủ mọi loại Thần mà họ có thể tưởng tượng ra được, từ thần Sấm, thần Sét, thần Cây Đa, cây Đề, thần Hổ, thần Rắn, thần Núi, thần Sông (Hà Bá) v.v…
 Nhưng căn cứ vào kinh sách liễu nghĩa của nhà Phật, theo lời Phật dạy trong Pháp Tứ Y : "y cứ theo kinh liễu nghĩa, chẳng y cứ theo kinh không liễu nghĩa", thì chúng tôi thấy không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi là cúng sao giải hạn cho Phật tử cả.  Tuy vậy, vẫn có một số ít chùa, ở những vùng địa dư còn chịu nhiều ảnh hưởng truyền thống tín ngưỡng dân gian đa thần, thì các vị tu sĩ Phật giáo cũng đành phải, gọi là tùy duyên hóa độ, tùy theo niềm tin của đa số quần chúng sơ cơ học đạo giải thoát, mà tổ chức các buổi lễ lạc, bên cạnh những nghi thức thuần túy Phật giáo, mục tiêu cũng vẫn là dùng phương tiện để hóa độ chúng sinh, từ từ chuyển tâm họ quay về bờ Giác. Ngoài ra, cũng có một số chùa ở chốn thị thành, mặc dầu biết việc cúng sao giải hạn là không phù hợp với chánh pháp nhưng vẫn duy trì, hoặc do nhu cầu phát triển chùa cần sự trợ giúp của thí chủ, hoặc vì lo ngại Phật tử sẽ đi nơi khác hay theo thầy bùa, thầy cúng mà tội nghiệp cho họ phải xa dần Phật đạo.
 Tại sao chúng tôi nói là không có ngôi sao nào chiếu vào con người mà nhờ đó được phúc lợi hay mang tai họa và cũng không có một nghi lễ nào gọi là cúng sao giải hạn cho Phật tử cả.  Bởi vì tất cả họa và phước mà con người có được đều là do nhân quả của chính người ấy làm nên.  Bảy ngôi sao, chín ngôi sao hay mười ngôi sao nói ở trên là do chính con người đặt tên và vẽ cho mỗi ngôi sao mang một đặc tính, chứ đức Phật không hề nói về chúng.  Ngài dạy chúng ta về nhân quả.  Ngài dạy rằng không có quả nào từ trên trời rơi xuống, hoặc dưới đất hiện lên, mà đều do các hành động qua tâm, khẩu và ý của con người tạo ra.  Con người tạo nhân tốt lành thì quả tốt lành nhất định đến. Thí dụ như chúng ta muốn có cam ngọt thì chúng ta phải chọn giống hay chiết cành từ cây cam ngọt, như cam Texas chẳng hạn.  Thêm vào đó chúng ta phải chăm sóc, bón phân, tưới nước đúng thời kỳ, thì thế nào chúng ta cũng sẽ hái được cam ngọt.
 Tương tự như vậy,  mọi sự thành công hay thất bại trong đời của mỗi người không phải do ai ban phát cho, mà do những cái nhân chúng ta tạo nên từ trước, khi nhân duyên đầy đủ thì quả thành.  Những nhân duyên xấu do chúng ta tạo tác sẽ trổ quả xấu, những nhân duyên tốt sẽ trổ qủa tốt.  Nhà Phật có câu “muốn biết thời quá khứ chúng ta đã gieo nhân gì thì cứ nhìn cái quả mà chúng ta đang lãnh.  Muốn biết tương lai chúng ta ra sao thì cứ nhìn cái nhân chúng ta đang gieo trồng trong hiện tại”; Tuy nhiên, nhân quả không đơn thuần mà rất đa dạng, trùng trùng, chẳng phải chỉ do trực tiếp ở đời hiện tại mà lại có thể do ảnh hưởng từ nhiều đời trong quá khứ, ngoại trừ những người tu hành liễu đạo, tới được trạng thái "Tâm Không" thì: "Liễu tức nghiệp chướng bổn lai không"(Vĩnh Gia Huyền Giác).
 Cầu xin quả tốt lành mà không chịu gieo nhân tốt lành, sợ hãi quả xấu, sợ hãi tai họa xảy đến, mà không dừng tay tạo nhân xấu, sự cầu xin ấy chỉ là việc hoang tưởng. Phật giáo dạy rằng bất luận việc gì xảy đến cho chúng ta, đều do một hay nhiều nguyên nhân, chớ không do ngẫu nhiên, thời vận hên xui hay số mạng an bài.
 Đối với Phật giáo, không có ngày nào xấu, mà cũng không có ngày nào tốt, mà cũng không có sao hạn xấu tốt. Nếu ta đi coi xăm, bói quẻ, coi sao, coi hạn, thầy nói ngày ấy tốt mà lại đi làm những chuyện không tốt lành, như ăn trộm, gây gỗ, đánh nhau, giết người, chắc chắn chúng ta sẽ bị pháp luật trừng trị và ngày tốt do ông thầy nói ấy trở thành ngày xấu ngay. Như vậy ngày tốt, ngày xấu không có cơ sở, chỉ là do con người bày ra mà thôi. Lại thí dụ có hai đạo quân giao tranh, đều chọn ngày tốt và giờ hoàng đạo ra quân, vậy mà chỉ có một bên thắng, và cả hai bên, dù thắng dù thua, cũng đều có tử sĩ và thương binh. Chọn ngày tốt mà làm việc giết người thì quả trổ ra sẽ có chết chóc là vậy.
 Đối với sự cúng sao giải hạn, nếu chỉ mua sắm lễ vật mang lên chùa để xin thầy cúng sao La Hầu, Kế Đô hay Thái Bạch gì đó để giải hạn xấu giùm thì nghịch lại lý Nhân Qủa.  Nếu vị thầy cầu xin đức Thái Bạch Tinh Quân, đức La Hầu Tinh Quân, … tha tội, giải hạn xấu nổi thì những người giầu có cứ tạo ác rồi sau đó xin thầy cúng sao giải hạn cho tai qua nạn khỏi, cho khỏi bị tù tội, tạo nhân ác mà hưởng được quả thiện, thì toàn bộ nền đạo lý xây dựng trên quan điểm về lý Nhân Quả mà nhà Phật rao giảng phải sụp đổ sao?
 Có người hỏi rằng, nếu chỉ tin vào quy luật Nhân Quả thì có nên cúng bái Cầu Siêu, Cầu An không?
 Xin thưa, cúng bái Cầu Siêu, Cầu An khác với cúng Sao giải hạn.
 Trường hợp Cầu Siêu, đó là một hình thức tưởng niệm người đã qua đời, với tâm thành ước mong thần thức người quá vãng được sanh về nơi tốt đẹp. Chuyện lời cầu có được đáp ứng hay không thì chưa ai chứng minh bằng khoa học được. Nhưng lòng thương nhớ mà thân nhân dành cho người quá vãng nếu được biểu lộ bằng những buổi lễ trang nghiêm, với niềm tin tưởng thành kính, chí tâm cầu nguyện cho người quá vãng, thì nếu như thần thức người quá vãng còn trong trạng thái thân trung ấm, sẽ có thể có cảm ứng tốt mà vơi đi nỗi buồn rầu, lo sợ, sân hận, có thể tạo được cơ hội cho nghiệp lành dẫn dắt mà tái sanh.
 Ngay như những buổi cúng giỗ, nếu gia đình người quá vãng có thể thiết lễ trên chùa, cùng nhau vì người quá vãng mà tụng một thời kinh, dùng một bữa cơm chay tịnh, thì ngoài biểu tượng của lòng hiếu thảo từ con cái hướng lên cha mẹ, hoặc tình thương mến đối với người thân nhân đã qua đời, cũng còn là một duyên lành của những người tham dự với nhà Phật khởi lên từ kỷ niệm đối với người quá vãng.
 Còn trường hợp lễ Cầu An thì chúng tôi thiết nghĩ, nếu muốn có được kết quả tốt thì chính người bệnh phải cùng với thân nhân tham dự buổi lễ. Mà phải tham dự với tâm niệm chí thành. Người bệnh và tất cả thân nhân đều đồng tâm chí thành tụng niệm, thì ngay trong những giờ phút chí thành đó, tâm họ đã thanh tịnh. Nhà Phật quan niệm rằng tất cả Thân và Tâm đều vô thường, cho nên khi Tâm chuyển thì nghiệp chuyển, nghiệp chuyển thì bệnh chuyển. Bệnh là do Thân, Khẩu, Ý Nghiệp xấu tạo nên.
 Có câu: "Tâm được tịnh rồi, tội (nghiệp) liền tiêu".
 Vậy muốn Cầu An cho có kết quả thì ngoài vị thầy, chính người bệnh và thân nhân phải cùng nhau hành trì để cho Tâm được tịnh. Sự kiện thân nhân nên cùng tụng niệm là để cho người bệnh được tăng trưởng niềm tin khi thấy có bạn đồng tu, chứ nhân vật chính vẫn phải là người bệnh. Còn như chỉ đưa tiền cho vị thầy để nhờ thầy tụng niệm giùm, rồi xoa tay hoan hỉ về nhà chờ kết quả thì trái quy luật nhân quả. Vị thầy tụng niệm thì Tâm thầy tịnh, người bệnh không được ảnh hưởng, ngoại trừ chút hy vọng.
 Đức Phật là vị đạo sư, Ngài không làm chuyện bất công là ban phước hoặc giáng họa cho ai, đã dạy chúng ta rằng phải tạo nhân lành để hưởng quả tốt trong Nhân Thừa. Rồi Ngài dạy chúng ta con đường để thăng tiến trong năm Thừa của nhà Phật, từ Nhân Thừa, Thiên Thừa, Thanh Văn Thừa, Duyên Giác Thừa và Bồ Tát Thừa, rồi đi tới giải thoát khỏi luân hồi sinh tử.
 Quý vị tu sĩ trong đạo Phật là Trưởng Tử Như Lai, hiển nhiên là phải nối tiếp bước chân của Đức Phật mà soi chiếu Ánh Đạo Vàng cho Phật tử, dạy Phật tử những điều Phật dạy trong kinh. Quý vị tu sĩ Phật giáo không phải là những người môi giới giữa Thần Thánh và tín đồ như tu sĩ của một số tôn giáo khác, tự nhận là có thể cầu xin Thần Thánh ban ơn giáng họa được. Chúng ta cần dùng trí tuệ để hiểu rõ con đường Giải Thoát của nhà Phật.
 Trong kinh Phật Giáo Nguyên Thuỷ (kinh Trường Bộ), Đức Phật đã khuyên các thầy Tỳ Kheo, những người đã thọ dụng sự cúng dường của tín thí Phật tử, không nên thực hành những tà hạnh như: “chiêm tinh, chiêm tướng, đoán số mạng, xem địa lý, xem mặt trăng, mặt trời, các sao mọc lặn, sáng mờ, … sắp đặt ngày lành để đưa (rước) dâu hay rể về nhà, lựa ngày giờ tốt để hòa giải, lựa ngày giờ tốt để chia rẽ, lựa ngày giờ tốt để đòi nợ, lựa ngày giờ tốt để cho mượn hay tiêu tiền, dùng bùa chú để giúp người được may mắn, dùng bùa chú để khiến người bị rủi ro, dùng bùa chú để phá thai, dùng bùa chú làm cóng lưỡi, dùng bùa chú khiến quai hàm không cử động, dùng bùa chú khiến người phải bỏ tay xuống, dùng bùa chú khiến tai bị điếc, hỏi gương soi, hỏi phù đồng thiếu nữ, hỏi thiên thần để biết họa phước, …”  
Ngoài ra, cũng trong kinh Nguyên Thuỷ (Giải Thoát Kinh), Đức Phật đã dạy về giáo pháp của chư Phật.  Ngài dạy rằng:
“Ai hành trì chánh Pháp
 Là cúng dường Đức Phật
 Bằng cách cao quí nhất
 Trong các sự cúng dường…”
 Pháp mà Ngài dạy có thể tóm lược trong ba điều, đã trở thành quen thuộc với mọi người Phật tử:
 “Không làm các việc ác
  Siêng làm các việc lành
  Thanh tịnh hoá tâm ý…”
 Như vậy, nếu mỗi Phật tử đều hành trì ba điều Đức Phật dạy kể trên thì giờ nào, ngày nào, tháng nào hay năm nào cũng đều là giờ hoàng đạo, là ngày tốt, tháng tốt và năm tốt cả; đâu cần phải đi nhờ thầy cúng sao giải hạn nữa.  Và hành trì như thế mới là cách cúng dường cao quý nhất trong các cách cúng dường Đức Phật.
Hoàng Liên Tâm

Lễ ra mắt bộ "Trí Tịnh toàn tập"

Ngày đăng bài Thứ Sáu, ngày 21-02-2012
Chiều ngày 19.2.2012, tại chùa Vạn Đức (quận Thủ Đức, TP.HCM), trú xứ của Đại lão HT.Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã diễn ra Lễ ra mắt công trình “Trí Tịnh toàn tập”, phần 1.Đến dự có chư tôn đức giáo phẩm thành viên Hội đồng Chứng minh: HT.Thích Tắc An, HT.Thích Viên Giác; chư tôn đức Ban Thường trực Hội đồng Trị sự, Ban Trị sự THPG TP.HCM, các Ban Trị sự PG tỉnh Đồng Nai, Lâm Đồng, chư Tăng Ni các tự viện trong và ngoài thành phố cũng như hải ngoại và đông đảo Tăng Ni, Phật tử là đệ tử thọ ân giáo dưỡng của Đại lão Hoà thượng Chủ tịch HĐTS GHPGVN.
TT.Thích Hoằng Tri, Trưởng ban Biên tập “Trí Tịnh toàn tập” thay mặt Ban Biên tập, Ban thực hiện đã có lời chào mừng và trình bày về nhân duyên của Phật sự này.
Ấn bản Kinh Hoa Nghiêm và Chư tôn giáo phẩm chứng minh
“Qua công hạnh và sự nghiệp hoằng dương Phật pháp của Hoà thượng Tôn sư, chúng con thấy rằng ngài đến đây vì nguyện để tiếp tục sự nghiệp tu hành mà đời trước đã làm. (…) Sự nghiệp phiên dịch của ngài quá to lớn. Phần nhiều các kinh điển Đại thừa đều do ngài phiên dịch. Với công đức to lớn như vậy mà chúng con chưa làm được điều gì để gọi là tuyên dương công đức của ngài. Nay tuổi ngài đã cao, sức đã mỏi nhưng trí lực vẫn còn sáng suốt, niệm lực gần như tương tục, chúng con quyết tâm làm một việc tuy muộn nhưng cũng còn tha thứ được. Đó là thực hiện công trình in ấn bộ TRÍ TỊNH TOÀN TẬP”, TT.Thích Hoằng Tri bày tỏ tâm niệm trước chư tôn đức Tăng Ni và đông đảo Phật tử tham dự.
Thượng toạ cho biết, sau hơn một năm làm việc miệt mài, được sự hộ niệm của Hoà thượng Tôn sư và chư Hoà thượng chứng minh, sự chỉ dạy của chư tôn túc Ban Cố vấn cùng sự nỗ lực của các thành viên trong Ban Biên tập, nay đã hoàn thành được phần một với kết quả cụ thể là in ấn bộ kinh Hoa Nghiêm - bộ kinh mà Đức Thế Tôn đã thuyết đầu tiên sau khi Ngài thành đạo.
Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm được in ấn thành 4 cuốn, khổ 19x26, in chữ lớn trên giấy ford Hà Lan màu vàng dịu, bìa in nhũ vàng trên chất liệu simili màu xanh nhập khẩu từ Đài Loan, đóng hộp từng cuốn với công nghệ cao.
Được biết, công tác biên tập tuân thủ việc giữ nguyên văn phong của Đại lão Hoà thượng, chỉ sửa những lỗi chính tả và sắp xếp cấu trúc lại cho logic về văn bản sau khi đã đối chiếu với các bản in thuộc Tổ In ấn và Phát hành kinh sách Thành hội PG TP.HCM đã xuất bản trước đây.
Sau báo cáo của Ban Biên tập về quy cách, tiến độ, những thuận duyên và khó khăn của công việc trong hơn một năm qua, cùng các phát biểu của đại diện Xí nghiệp In Fahasa - đơn vị thực hiện in ấn, chăm sóc đóng xén thành phẩm, cũng như phát biểu của cư sĩ Lê Phước Vũ -  Chủ tịch Tập đoàn Tôn Hoa Sen - thay mặt cho hàng đệ tử tại gia của Đại lão Hoà thượng; HT.Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã có lời đạo từ.
Đạo từ gợi lại tấm gương tinh tấn vượt bực về học đạo, hành đạo và phụng sự, đặc biệt là sự nghiệp dịch thuật kinh điển Đại thừa cũng như lãnh đạo Giáo hội trên cương vị là Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN trong 26 năm qua của Đại lão HT.Thích Trí Tịnh. Hoà thượng đã điểm sơ lược bối cảnh mà Đại lão HT.Thích Trí Tịnh đã trải qua, từ lúc là học Tăng cho đến hôm nay, ở tuổi 96, dù hoàn cảnh thế nào, ngài vẫn giữ vững chí hướng của một bậc xuất trần thượng sĩ; 'kiếp trước làm Hoà thượng, kiếp này cũng làm Hoà thượng' - như lời mà ngài được phó chúc. “Đại lão HT.Thích Trí Tịnh là một viên ngọc quý của Phật giáo Việt Nam ở thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI. Công trình dịch thuật kinh điển Đại thừa mà ngài đã làm là 'xá-lợi Pháp bảo' tôn quý, vô cùng quan trọng”, HT.Thích Giác Toàn nhấn mạnh.
HT.Thích Giác Toàn cũng có lời tán thán công đức, tâm nguyện báo đáp ơn Thầy của chư vị Tăng Ni, Phật tử đệ tử của Đại lão HT.Thích Trí Tịnh đã được thể hiện bằng một công việc ý nghĩa, không chỉ đối với bổn tự mà còn đối với kho tàng Pháp bảo của Phật giáo Việt Nam.

toan canh _Panorama1.jpg
Trả lời câu hỏi của Giác Ngộ là dự tính thời gian lúc nào hoàn thành bộ “Trí Tịnh toàn tập”, TT.Thích Hoằng Tri, Trưởng ban Biên tập cho biết: “Chưa biết lúc nào, sẽ cố gắng, tới đâu hay tới đó.” Tuy nhiên, Thượng toạ cũng cho biết thêm rằng, hy vọng sẽ sớm hoàn thành công việc này.
Bài: Hoàng Độ, ảnh: Bảo Toàn
Nguồn: giacngo.vn

Thứ Năm, 1 tháng 3, 2012

Những vết chân voi

28-02-2012
Muốn bảo tồn được nhân tính con người thì chúng ta cũng nên mở rộng lòng mình giúp cho con voi thật to có thể bước vào để dẫm lên tâm thức mình, đánh thức lương tri của mình, cọ xát thật mạnh vào con tim của mình, hầu giúp mình trở thành một con người đích thật, một con người biết nhìn vào sự bất hạnh của tất cả những sự hiện hữu biết hít thở, bằng con tim rướm máu của chính mình.
>Làm thế nào để đạt được sự Giải Thoát ?
Vài lời giới thiệu của người dịch:
            Đây là một trong số ba-mươi bài kinh trong tập Trung A Hàm do Christian Maes tuyển chọn để dịch thẳng từ tiếng Pa-li sang tiếng Pháp. Ba-mươi bài kinh này đã được đưa lên mạng Internet từ nhiều năm nay và vừa được xuất bản thành sách với tựa đề là Những Vết Chân Voi (Les Empreintes d’Eléphant, nxb ILV, 2012).
            Thật quả hết sức khó để dò tìm một vài chi tiết về tiểu sử của tác giả và dịch giả Christian Maes. Là một nhà sư phiêu bạt và ẩn dật, ông sinh vào năm nào thì cũng không được rõ. Một vài tư liệu cho biết ông từng là một kỹ sư thế nhưng đã từ bỏ nghề nghiệp rất sớm và chọn một cuộc sống phiêu bạt, chu du hết Nam Mỹ đến Trung Mỹ và khắp Á Châu.
            Ông đến với Phật Giáo vào năm 1974 khi viếng thăm Tích Lan và sau đó thì tu học trong một thiền viện tên là Dodanduwa Hermitage. Một thời gian sau thì người ta lại thấy ông xuất hiện  ở Phi Châu để tham gia vào các chương trình cứu trợ trên phần lục địa này của địa cầu. Sau đó thì ông lại quay về với nếp sống ẩn dật. Ông tu tập thiền Ânâpânasati (gần với phép tu tập Vipassana), thiền Zen, thiền Tây Tạng... và hiện ẩn cư trong một tu viện Tây Tạng tại Âu Châu. Một vài học giả Phật Giáo có tiếng như Patrick Carré và Jacques Brosses (qua đời năm 2008) và nhà sư Tây Tạng Pawo Rimpoché (qua đời năm 1991) có quen với ông và biết ông là một người rất uyên bác nên đã từng khuyến khích ông viết và dịch thuật. (Độc giả có thể đọc thêm một bài viết của ông tựa là « Làm Thế Nào Để Đạt Được Sự Giải Thoát » trên các trang nhà Phật giáo..
Kết tập Đạo Pháp lần thứ nhất
Sau buổi lễ hỏa táng Đức Phật Cồ-đàm và xá-lợi được phân phát xong thì vấn đề bảo tồn phương pháp tu tập và giáo lý - tức là dhamma-vinaya - của vị Thầy quá cố trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Bằng chứng không chối cãi được là có một vị tu hành mang tên là Thiện Hiền (Subhadda) tuyên bố rằng mình cảm thấy thật vui thích bởi vì Vị Thầy không còn nữa để từ nay sẽ không còn ai để khiển trách mình và mình được tha hồ muốn làm gì thì làm   . Di sản tâm linh do vị Thầy để lại do đó có thể gặp phải nguy cơ sớm bị thoái hóa nhanh chóng. Hơn nữa hai người đệ tử thân cận nhất của Đức Phật là Xá-lợi-phất (Sâriputra) và Ma-ha Mục-kiền-liên (Mahâmogghallâna) thì lại cũng vừa viên tịch trước đó không lâu, vì thế mà người đệ tử đứng hàng thứ ba là Ma-ha Ca-diếp (Mahakassapa) phải đứng ra gánh vác trọng trách trên đây. Ma-ha Ca-diếp đề nghị nên tổ chức một đại hội nhằm mục đích bảo tồn sự chính xác cho giáo lý nguyên thủy. Ý kiến này được toàn thể Tăng Đoàn tán đồng và Ma-ha Ca-diếp bèn chọn các vị sư uyên bác nhất để nhờ họ đảm đang công việc này và sau hết thì toàn thể đại hội sẽ chứng duyệt các kết quả.
Thế là các vị tu sĩ từ khắp nơi kéo nhau về thủ đô Râjagaha của xứ Ma-kiệt-đà (Maghadha). Họ phải mất hơn một tháng trời mới dựng xong các lều tạm trú, và sau đó thì việc bàn thảo thống nhất giáo lý  kéo dài suốt bảy tháng trời. Các buổi thảo luận được tổ chức tại một hang động lớn tên là Sattapanni trên ngọn núi Vebhâra. Ngài Ưu-ba-li (Upâli) phụ trách tường trình về Luật Tạng (Vinaya), và Ngài A-nan-đà (Ânanda) thì đảm trách phần Đạo Pháp (lúc bấy giờ chưa có tạng thứ ba).
Ưu-ba-li chắc hẳn  phải là một nhà sư lỗi lạc thì mới được giao phó cho trọng trách ôn tập Luật-tạng. Thế nhưng thật ra cho đến nay người ta vẫn không biết gì nhiều về thân thế của vị đại sư này, và sự kiện ấy cho thấy là sự hiểu biết của chúng ta về khoảng thời gian đầu tiên của Phật Giáo còn rất thiếu sót. Ngài A-nan-đà thì đã nổi danh là người có trí nhớ tốt và cũng từng là người trợ tá bên cạnh vị Thầy suốt trong nhiều năm. Nhờ lúc nào cũng ở bên cạnh Đức Phật nên ông là một nhân chứng đáng tin cậy nhất về sự sinh hoạt và các buổi tiếp kiến của Ngài. Các vị nào trước đây thường tham dự các buổi thuyết giảng thì cũng có thể đóng góp thêm bằng sự hiểu biết riêng của mình, hoặc cũng có thể nêu lên các điểm mà mình không hoàn toàn đồng ý. Chỉ khi nào toàn thể hội đồng đều chấp nhận là đúng thì khi đó những gì tuyên đọc mới được xem là giáo lý chính thống, và cũng xin nhắc thêm là vào thời bấy giờ thì giáo lý còn hoàn toàn mang hình thức truyền khẩu.
Không lâu sau khi việc chỉnh đốn giáo lý và đại hội chấm dứt, có một nhà sư tên là Parâna trong khi đi khất thực cùng với các đồ đệ của mình ở Râjagaha thì có người hỏi ông nghĩ gì về việc chỉnh đốn các câu chuyện trong đại hội vừa qua, và vị này cho biết là theo ông thì ông vẫn thích ôn tập lại những gì do chính vị Thầy đã thuyết giảng và chính ông đã được nghe.
Sau lần kết tập thứ nhất trên đây thì các nhà sư chuyên giữ chức vụ ôn tập được giao phó trọng trách học thuộc lòng giáo lý chính thống để truyền khẩu cho người khác. Đấy chính là cách mà giáo lý được lưu truyền và bảo tồn từ thế hệ này sang thế hệ khác.
 Kết Tập Đạo Pháp lần thứ hai và thứ ba
Một trăm năm sau đại hội trên đây thì người ta thấy bắt đầu phát sinh một số khuynh hướng muốn cải cách các giới luật nơi chùa chiền, và những việc này đã đưa đến nhiều cuộc tranh cãi. Do đó mọi người thấy cần phải tổ chức lần Kết Tập thứ hai tại thành Vệ-xá-lị (Vesâli) hầu mượn thêm một dịp nữa để ôn lại giáo lý chính thống đã được học thuộc trước đây nhằm điều chỉnh lại những điều sai sót. Tuy thế cũng không tránh khỏi bộc phát một sự chia rẽ, bởi vì có một số người chủ trương phải giữ nguyên giáo lý cũ và các người này thì được gọi là các người xưa (Trưởng Lão Bộ  – Theravâdin), và số người còn lại có vẻ đông hơn và được gọi là các vị đại chúng (Đại Chúng Bộ – Mahâsangika), thì có khuynh hướng muốn đưa ra một số cải cách. Ngoài ra trong mỗi nhóm lại còn nẩy sinh ra thêm một số khuynh hướng tách rời khác nữa. Kết cuộc là nhiều học phái khác nhau đã phát sinh, và theo sử liệu cho biết thì có mười-tám học phái tất cả.
Về sau này vào thế kỷ thứ III trước kỷ nguyên, dưới triều đại của hoàng đế A-Dục (Azoka), thì có một số vị đạo sư (guru) có ý lạm dụng, tự mình đưa ra một số giáo huấn và tuyên bố đấy là giáo huấn đích thật của Đức Phật, và sự kiện này đã gây ra hoang mang không ít. Vì thế một hội đồng được triệu tập nơi công viên A-dục tại thủ phủ Pâtaliputa. Đây là lần Kết Tập thứ ba, được tổ chức  vào khoảng năm 253 trước kỷ nguyên. Toàn bộ giáo lý sau khi đã được chỉnh đốn thì được phân chia thành ba « tạng » như chúng ta thấy ngày nay. Sau khi đại hội chấm dứt thì một số các phái bộ truyền giáo được thành lập để gửi đến chín quốc gia khác nhau, trong số này có Tích Lan (Sri Lanka).
Việc truyền giáo tại Tích Lan
Một thế kỷ trước khi phái bộ truyền giáo được gửi đến Tích lan thì đã có một người tên là Vijaya gốc miền bắc Ấn đến chiếm đóng hòn đảo này và đưa dân đến đây lập nghiệp. Ngôn ngữ và tập quán trên đảo do đó cũng không khác nhiều so với ngôn ngữ và tập quán thuộc vùng đồng bằng sông Hằng. Nhà vua Tích Lan là Devanampiyatissa trị vì Tích Lan từ năm -307 đến năm -267 cũng đã tạo được một mối giao hảo tốt đẹp với hoàng đế A-dục. Trong khi đang đi săn bắn tại Mihintale (một nơi gần thủ đô Tích Lan và thuộc vào miền bắc của hòn đảo này) thì ông gặp nhà sư Mahinda là con trai của hoàng đế A-dục đang trên đường mang trọng trách đưa giáo lý Phật Giáo vào Tích Lan. Không lâu sau cuộc gặp gỡ bất ngờ đó thì nhà vua trên đảo liền tuyên bố là sẽ ủng hộ Phật Giáo và ông ra lệnh xây dựng một ngôi Đại Tự Viện dành cho nhà sư Mahinda. Ngôi chùa to lớn này có chín tầng lầu và tọa lạc ngay bên cạnh thủ phủ là Anurâdhapura. Ngày nay ngôi Đại Tự Viện và một vài di tích thành quách thời bấy giờ vẫn còn tồn tại và mọi người đều có thể đến viếng thăm. Nhà vua chính thức đứng ra tiếp nhận quà biếu gồm chiếc bình bát khất thực của Đức Phật để lại, một ít xá-lợi và một chồi cây mọc lên từ gốc cội Bồ-đề nơi mà Đức Phật đạt được Viên Mãn. Chỗ trồng chồi cây Bồ-đề này ngày nay đã trở thành một nơi hành hương trên đảo. Đồng thời dưới triều đại của vị vua này thì các lời bình giải giáo lý cũng bắt đầu được ghi chép bằng ngôn ngữ Cingalese (thổ ngữ của Tích Lan).
Vào thế kỷ thứ nhất trước kỷ nguyên và dưới triều đại của vua Vattagâmani (104-88), đã xảy ra nhiều biến cố chính trị khiến các dòng truyền thụ (tức các nhà sư chuyên đảm trách việc học thuộc lòng giáo lý để phổ biến và lưu truyền về sau) gần như bị gián đoạn. Vì thế nên các vị trụ trì ngôi Đại Tự Viện quyết định phải cho ghi chép bằng chữ viết các câu chuyện (tức các bài kinh) trong giáo lý và quyết định này đã được thực hiện tại một nơi cách xa thủ đô, trong môt ngôi chùa mang tên là Aluvihare. Ngôi chùa này vẫn còn đứng vững đến nay tại thị trấn Matale thuộc vào phía bắc của tỉnh Kandy, và mọi người đều có thể đến viếng dễ dàng. Tại đây có trưng bày các tờ kinh bằng lá bối (một loại cây cau hay cây dừa nhưng mặt lá thì to bản hơn) với các nét chữ thật tinh xảo khắc bằng đầu kim nhọn. Mặt lá được mài nhẵn, sau đó thì khắc chữ lên trên, thoa mực và lau sạch, mực chỉ còn giữ lại trong các nét khắc.
Dưới triều đại của vua Kutakannalissa (42-20 trước kỷ nguyên) đã xảy ra một số biến cố mà người ta không biết đích xác là gì thế nhưng đã khiến các vị trụ trì ngôi Đại Tự Viện đã quyết định chọn giải pháp là từ đấy phải dựa vào các văn bản ghi chép bằng chữ viết để bảo trì giáo lý và việc hoằng pháp phải giữ một vai trò quan trọng, ưu tiên hơn cả việc tu tập.
Vào thập niên 430 có một vị đại sư tên là Phật Âm (Buddhaghosa) chuyên dịch các lời bình giải bằng tiếng Cingalese sang ngôn ngữ nguyên thủy mà người ta thường gọi là ngôn ngữ Ma-kiệt-đà (Mâghada), tức là ngôn ngữ của đế quốc Ma-kiệt-đà trước đây vào thời kỳ Đức Phật còn tại thế, và vào thời bấy giờ thì kinh đô là Râjagaha. Về sau này kinh đô của hoàng đế A-dục là Pataliputta cũng đã được thiết lập trong địa phận của đế quốc Ma-kiệt-đà trước đây.
Ngày nay người ta thường dùng thuật ngữ « văn bản Pa-li » để gọi chung toàn bộ «kinh sách chính thống» nhằm phân biệt với các lời bình giải mang tên là atthakatha. Phật Âm thực hiện một công trình thật đáng kể là đã dịch lại phần bình giải của bộ Trung A Hàm (Majjhima Nikaya) mang tên là Papancasudani, tuy rằng trước đó ông cũng đã từng trước tác được một tập luận mang tên là Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga) tổng hợp tất cả các lời bình giải liên quan đến các văn bản chính thống. Phật Âm tổng kết thật tỉ mỉ lịch sử hình thành của giáo lý cổ xưa, có nghĩa là từ thời kỳ mà Đức Phật Cồ-đàm còn tại thế – thật ra thì một vài biến đổi cũng có thể đã xảy ra trong khoảng thời gian kể từ các thời kỳ ấy cho đến thế kỷ thứ III của kỷ nguyên hiện tại. Phật Âm gần như không hề góp thêm một quan điểm riêng tư nào của mình, và nếu có thì ông cũng đều cho biết thật minh bạch rằng đấy là những gì do chính ông đưa ra.
Một câu chuyện nhỏ về
NHỮNG VẾT CHÂN VOI
(Culahatthipadopamasuttam – bài kinh số 27)
            Cứ mỗi năm hai lần tại thủ đô Sâvatthi của đế quốc Kiêu-tát-la (Kosala) đều có tổ chức một ngày lễ hội thật lớn. Vào những ngày trước đó dân chúng đã náo nức chuẩn bị, nào là họ quét dọn đường xá, rải cát lên mặt đường, chưng hoa, treo cờ, thắp hương, và lại còn đặt thêm các chiếc vại to đựng đầy nước ở khắp nơi. Từ lúc tờ mờ sáng vị thủ lãnh Ba-la-môn Jânassoni đã thức dậy, tắm rửa và ăn mặc toàn màu trắng, sau đó ông trịnh trọng bước ra khỏi lâu đài và bước lên một cỗ xe thật to trang trí toàn bằng bạc và do bốn con ngựa cái màu trắng kéo, yên cương thì toàn bằng bạc. Các vị Bà-la-môn khác cũng ăn mặc toàn trắng cầm lọng trắng đi hộ tống hai bên cỗ xe. Hàng đoàn thanh niên và thiếu nữ nối đuôi theo sau, họ phân phát hoa quả và ném tiền vào dân chúng đang chen lấn nhau, vừa tung hô vừa vẫy khăn thật vui vẻ. Đoàn người diễn hành trong thành phố, điềm lành hiện ra khắp nơi. Sau đấy thì các vị chức sắc quay về lâu đài, riêng vị thủ lãnh Bà-la-môn Jânussoni thì cho xe ra khỏi thành phố qua cổng phía nam để đi một vòng ngoại thành theo hướng mà thành phố luôn thuộc vào bên tay phải. Trong lúc xe đang chạy thì ông ta gặp một người trẻ tuổi tên là Pilotika thuộc bộ tộc Vacchâyana đang từ bên ngoài đi vàothành phố, người này vừa hầu Đấng Thế Tôn và các vị thành đạt (tăng đoàn) xong và đang quay về.
            Tôi từng được nghe như thế này.
            Vào lúc bấy giờ Đấng Thế Tôn đang ngụ gần thành Sâvatthi, nơi khu vuờn Cấp-cô-độc (Anâthapindika)
Vị Bà-la-môn Jânussoni sở dĩ gặp được nhà tu phiêu bạt (không nhà cửa) Pilotica, ấy là nhờ vào việc xuất hành bằng cỗ xe do bốn con ngựa cái kéo vào lúc trưa hôm nay. Ông ta cất lời hỏi người tu hành như thế này:
- Thưa ngài đáng kính Vacchâyana, vậy thì ngài đang đi đâu đấy vào lúc giữa trưa như thế này?
-  Thưa ngài đáng kính, tôi vừa cáo biệt vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm và đi ngang đây.  
- Thưa vị đáng kính Vacchâyana, ngài nghĩ thế nào về sự thông thái của nhà tu hành khổ hạnh Cồ-đàm? Có phải vị ấy là một bậc hiền nhân hay không?
- Thưa vị đáng kính, tôi ấy à? Nào tôi có phải là người để mà đánh giá sự thông thái mà nhà tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đã từng biểu lộ đâu? Chỉ có ai ngang hàng thì may ra mới đủ sức để thẩm định sự thông thái của vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm mà thôi.
- Chẳng qua thì đấy cũng chỉ là những lời ngợi khen quá đáng mà ngài đáng kính Vacchâyana dùng để tôn vinh vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đấy thôi!
- Thưa vị đáng kính, tôi ấy à? Nào tôi có phải là người để mà tôn vinh vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đâu? Bởi vì chỉ có những danh nhân tột đỉnh may ra mới xứng đáng để có thể tôn vinh vị đáng kính Cồ-đàm mà thôi, Ngài là vị cao đẹp nhất giữa các vị trời và đối với tất cả con người.
- Vậy thì thưa ngài đáng kính Vacchâyanna lý do nào đã khiến ngài đặt hết niềm tin vào vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm như thế?
- Thưa ngài đáng kính, nếu một người săn voi thiện nghệ tiến vào một khu rừng voi và trông thấy một vết chân thật lớn, vừa dài lại vừa rộng, thì nhất định hắn sẽ tiên đoán đấy phải là một con voi khổng lồ. Cũng thế, thưa ngài đáng kính, tôi nhận thấy nơi vị tu khổ hạnh bốn dấu hiệu khiến tôi hiểu rằng Đấng Thế Tôn phải là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            - Vậy bốn dấu hiệu ấy là gì?    
            Tôi từng trông thấy, thưa vị đáng kính, các vị hiền nhân trong giới quý tộc, họ là những vị thật tinh tế, thắng được tất cả mọi cuộc tranh biện, rất sâu sắc, đánh đổ được mọi thứ  giáo điều bằng sự sáng suốt của mình. Họ dọ hỏi xem vị tu hành khổ hạnh sẽ đi ngang thị  trấn nào hay ngôi làng nào để chuẩn bị trước một câu hỏi như thế này: « Nếu Vị ấy trả lời bằng cách này, thì chúng tôi cũng sẽ vạch trần được sự sai lầm trong câu trả lời của Vị ấy theo đúng với cách ấy. Nếu Vị ấy trả lời theo cách kia thì chúng tôi cũng sẽ vạch trần được sự sai lầm trong câu trả lời của Vị ấy theo đúng với cách kia ».
            Thế rồi họ biết được Vị tu hành khổ hạnh sẽ dừng lại tại một thị trấn hay một ngôi làng đúng như dự tính. Họ bèn tìm gặp Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm, và Vị tu hành khổ hạnh thuyết giảng cho họ nghe một bài Pháp. Thế rồi Ngài chinh phục ngay được họ, khơi lên lòng nhiệt tâm của họ, mang lại lòng hứng khởi cho họ, và họ không còn nghĩ đến việc nêu lên câu hỏi của mình với Vị tu hành khổ hạnh nữa. Khi trông thấy tận mắt dấu hiệu thứ nhất ấy nơi vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm thì tôi liền hiểu rằng Đấng Thế Tôn quả thật là một Vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Tôi đã từng trông thấy, thưa ngài đáng kính, các vị hiền nhân trong giới Bà-la-môn, họ thật tinh tế...(lập lại đúng với cách được trình bày trên đây).
            Tôi đã từng trông thấy, thưa ngài đáng kính, các vị hiền nhân trong số các vị chủ gia đình, họ thật tinh tế ...( lập lại như trên đây).
            Sau hết tôi cũng từng trông thấy, thưa ngài đáng kính, các vị hiền nhân tu hành khổ hạnh... (lập lại như trên đây và tiếp theo như sau)... họ cũng không hề nghĩ đến việc nêu lên câu hỏi của mình với Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm. Vì thế thì còn có dịp nào để mà bác bỏ được lời giải đáp của Vị ấy? Hơn thế nữa họ đã nhân dịp may ấy để xin Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm cho phép họ được đi từ nhà này sang nhà khác (có nghĩa là đi khất thực, tức là xin được bước theo Đức Phật), và Vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm đã đồng ý.
            Khi đã đi từ nhà này sang nhà khác thì tất nhiên là họ cũng sẽ giữ một nếp sống đơn độc, ẩn dật, luôn cảnh giác, hăng say và quyết tâm, và cũng không cần phải chờ lâu để có thể nhìn thấy họ có thể trông thấy bằng chính mắt họ, bằng sự hiểu biết trực tiếp của họ, qua hiện thực đang hiện hữu với họ về sự Hoàn Thiện tối thượng mang lại từ một nếp sống thánh thiện mà các người con của các gia đình tốt lành đã chuyển từ nếp sống nơi tổ ấm sang một nếp sống không gia cư, cũng không cần phải chờ lâu để có thể trông thấy họ đạt được cuộc sống ấy và an trú trong cuộc sống ấy. Họ bảo rằng: « Trước đây đối với chúng tôi tất cả toàn là sự mất mát, và chúng tôi cũng đã gần như đang trong lúc sắp phải mất mát tất cả, bởi vì chúng tôi cứ ngỡ mình là những người tu hành khổ hạnh thế nhưng thật ra thì lại không đúng thế, chúng tôi cứ ngỡ mình là những vị Bà-la-môn thế nhưng thật ra thì lại không đúng thế, chúng tôi cứ ngỡ mình là những người Toàn Thiện thế nhưng thật ra thì lại không đúng thế. Hôm nay thì lại khác, chúng tôi đúng thật đã trở thành người tu hành khổ hạnh, chúng tôi đúng thật đã trở thành người Bà-la-môn, chúng tôi đúng thật đã trở thành người Toàn Thiện. Khi tôi được trông thấy dấu hiệu thứ tư ấy (tức bốn trường hợp xảy ra với các vị hiền nhân thuộc bốn tầng lớp xã hội là: quý tộc, Bà-la-môn, các người chủ gia đình và các người tu hành khổ hạnh) nơi vị tu hành khổ hạnh Cồ-đàm thì tôi liền hiểu ngay rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Quả đúng là như thế, thưa ngài đáng kính, bởi vì tôi đã trông thấy tận mắt bốn dấu hiệu nơi nhà tu hành khổ hạnh Cồ-đàm và tôi đã hiểu ngay rằng Đấng Thế tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường ».
            Sau khi nghe được những lời trên đây thì vị Bà-la-môn Jânussoni bèn bước xuống xe trang trí toàn bằng màu trắng kéo bởi bốn con ngựa cái, sửa lại áo trên vai cho ngay ngắn chắp tay nhìn về hướng nơi tạm trú của Đấng Thế Tôn để vái lạy và thốt lên như sau:
            « Xin đảnh lễ Đấng Thế Tôn hoàn hảo, một vị Phật Toàn Thiện! Xin đảnh lễ Đấng Thế Tôn hoàn hảo, một vị Phật Toàn Thiện! Xin đảnh lễ Đấng Thế Tôn hoàn hảo, một vị Phật Toàn Thiện! Tôi cầu xin trong dịp này hay vào dịp khác được đích thân đến gặp Vị đáng kính Cồ-đàm. Tôi cầu xin được diễm phúc đàm đạo với Ngài.
***
            Sau cuộc gặp gỡ đó thì vị Ba-la-môn Jânussica tìm cách gặp Đấng Thế Tôn. Vị này và Đấng Thế Tôn trao nhau vài lời chào hỏi và cùng tỏ bày sự kính cẩn thật thân ái và đáng ghi nhớ, và sau đấy thì trịnh trọng ngồi xuống. Sau khi an tọa thì vị Bà-la-môn thuật lại với Đấng Thế Tôn cuộc đàm thoại trước đây với vị tu hành phiêu bạt Pilotika.
            Đấng Thế Tôn bèn cất lời với vị Bà-la-môn Jânussica như sau:
- Này vị Bà-la-môn, nếu nói như thế thì quả là các vết chân voi không được đầy đủ chi tiết. Vậy hãy lắng nghe nhé.
            Vị Bà-la-môn đáp lại :
- Vâng, thưa vị đáng kính.
- Này vị Bà-la-môn, khi người săn voi tiến sâu vào khu rừng voi thì hắn trông thấy một vết chân voi thật to, vừa dài lại vừa rộng, nếu hắn là một người săn voi thiện nghệ thì hắn sẽ phải thận trọng mà không quyết đoán ngay đấy là một con voi khổng lồ. Tại vì sao? Bởi vì trong khu rừng có những con voi nhỏ [thế nhưng có thể] để lại những vết chân thật to, và biết đâu một trong số các vết chân này lại cũng là vết chân mà hắn đã trông thấy. [Vì thế nên] người săn voi lại tiếp tục tiến sâu hơn vào khu rừng.            
            Khi tiến sâu hơn vào khu rừng, hắn lại trông thấy một vết chân voi to lớn, dài và rộng, và cả những dấu vết cọ xát vào phía trên [vào các thân cây]. Nếu đấy là một người săn voi thiện nghệ thì hắn không quyết đoán ngay đấy là một con voi to lớn. Tại vì sao? Bởi vì trong khu rừng có những con voi cái to lớn màu nâu để lại những vết chân thật to, và vết chân mà người săn voi trông thấy biết đâu cũng có thể là một trong các vết chân của chúng.
            « Người săn voi lại tiếp tục tiến sâu hơn nữa, hắn lại trông thấy một vết chân to lớn, dài và rộng, hắn trông thấy các vết cọ xát vào phía trên cũng như các vết vỏ cây bị ngà voi làm cho tróc ra và các cành trên cao cũng bị gãy. Thế nhưng nếu hắn là một người săn voi thiện nghệ thì hắn sẽ không quyết đoán ngay đấy là một con voi to lớn. Tại vì sao? Bởi vì trong rừng có những con voi cái lớn với cặp ngà mọc chỉa sang hai bên và chúng cũng để lại các vết chân lớn, và vết chân này biết đâu cũng có thể là vết chân mà hắn trông thấy. Người săn voi lại tiếp tục tiến sâu hơn nữa.
            « Càng đi sâu hơn vào khu rừng hắn lại tiếp tục trông thấy các vết chân voi to lớn khác, dài và rộng,  hắn cũng thấy cả các vết cọ xát phía bên trên, các vết [vỏ cây] tróc ra trên cao do ngà voi gây ra, và cả các cành cao bị gãy, và hơn thế nữa hắn còn trông thấy cạnh một gốc cây hay giữa một khu quang đãng có một con voi thật to, đang đi, đang đứng, đang ngồi hay đang nằm, và chỉ khi ấy thì hắn mới quả quyết rằng đấy chính thật là một con voi to lớn.
            « Cũng thế, này vị Bà-la-môn, một Đấng Như Lai (một Đấng Như Lai ở đây chỉ định một Đấng Giác Ngộ nói chung, không nhất thiết là Đức Phật Thích-ca, chữ một trong câu này cho thấy ý nghĩa thật tinh tế) xuất hiện trong thế giới này, đạt được sự viên mãn, là một vị Phật hoàn hảo, thông suốt mọi sự, hành xử đạo đức và đúng đắn, là một vị Thầy của các thiên nhân và con người, là Phật, là Đấng Thế Tôn (cách diễn đạt này được giải thích trong Thanh Tịnh Đạo - Visud VII, 2 – ghi chú thêm của Christian Maes). Vị ấy trông thấy tận mắt và bằng sự hiểu biết trực tiếp về thế giới này trong đó gồm có các vị Thiên Nhân, Ma Vương (Mara), các vị Phạm Thiên (Brahma), các vị tu hành khổ hạnh, các vị Bà-la-môn, và tất cả nhân loại từ các vị vua chúa oai phong cho đến con người, Vị ấy tôn xưng như thế. Vị ấy giảng dạy Đạo Pháp (Dhamma), đúng từ đoạn đầu, đúng trong đoạn giữa và đúng cả đoạn cuối, từ nội dung cho đến hình thức. Vị ấy là hiện thân của một nếp sống thánh thiện, trọn vẹn và hoàn toàn tinh khiết (cách diễn đạt này được bình giải trong Thanh Tịnh Đạo, Visud VII, 69 – ghi chú của Christian Maes).
            « Một người chủ gia đình, một người con nơi tổ ấm hay một người sinh ra trong bộ tộc này hay bộ tộc nọ nếu được nghe giảng về Đạo Pháp và sau đó Đạo Pháp mang lại cho người này lòng tin nơi Đấng Như Lai thì người ấy tất sẽ nghĩ như thế này: « Gian nhà của tôi quả là bừa bộn và đầy bụi bặm (1) trong khi ấy thì những người tu hành phiêu bạt lại sống giữa trời cao. Quả thật hết sức khó cho những ai sống dưới mái gia đình lại có thể noi theo một nếp sống thánh thiện với tất cả sự toàn vẹn của nó, một nếp sống hoàn toàn tinh khiết và bóng láng như một vỏ sò. Tốt hơn hết là nên cắt tóc, cạo râu, khoác lên người chiếc áo màu nghệ và đi từ nhà này sang nhà khác.
            Sau đó thì người này bỏ lại tất cả cái khối gia sản của mình dù đấy chỉ là những gì không đáng kể hay thật kếch sù, hắn rời bỏ cái cái vòng giao du trước đây của mình dù là cái vòng giao du ấy rộng lớn hay chỉ nhỏ hẹp, để mà cắt tóc, cạo râu và khoác lên người chiếc áo màu nghệ để đi hết nhà này sang nhà khác.
            Sau giai đoạn chuyển tiếp trên đây thì người ấy lo luyện tập và chọn cho mình nếp sống của một người tu hành. Hắn từ bỏ không hủy hoại luồng sinh khí (không sát sinh), hắn cố tránh không hủy diệt luồng sinh khí (tránh vô tình gây ra sát sinh). Hắn đặt gậy xuống (tránh sự hung bạo), buông thanh kiếm xuống, hắn biết đè nén cơn giận, phát lộ lòng từ bi và quan tâm đến sự an vui của tất cả những gì hiện hữu và biết hít thở.
            Hắn từ bỏ việc trộm cắp và tránh không lấy những gì mà người khác không cho mình. Hắn chỉ lấy những gì mà người khác cho mình, chỉ ước muốn những gì mà người khác cho mình, hắn hoàn toàn không phạm vào việc trộm cắp.
            « Hắn từ bỏ các hành vi ô nhiễm, tránh những hành vi ấy. Hắn biết giữ gìn một cuộc sống đoạn dục, tránh các giao du tự nhiên về tính dục với dân chúng trong làng.
            Hắn từ bỏ sự lừa đảo, tránh không dối gạt. Hắn nói lên sự thật, giữ đúng sự thật và luôn bảo vệ sự thật, hắn xứng đáng là một người tín cẩn, không phỉnh gạt những người chung quanh.
            Hắn từ bỏ những lời ác tâm, tránh không nói lên những lời độc ác. Hắn không thuật lại ở nơi này những gì nghe thấy tại nơi khác hầu không làm hại các người này, hắn không thuật lại tại nơi khác những gì nghe thấy ở nơi này hầu không làm hại những người kia, hắn hòa giải những ai xích mích với nhau, hắn hàn gắn những người đã được hòa giải, hắn hân hoan khi trông thấy sự hòa hợp và luôn thốt ra những lời mang lại sự hòa hợp.
            Hắn từ bỏ những lời nặng nề, tránh không nói năng thô bỉ. Hắn nói lên những lời dịu dàng, dễ nghe, những lời đi thẳng vào con tim người khác, những lời nhã nhặn, ngọt ngào và thú vị đối với tất cả mọi người.
            Hắn từ bỏ cách ăn nói ba hoa, tránh không nói năng huyên thiên. Hắn nói đúng lúc, nói toàn sự thật, nói lên Đạo Pháp, nhắc đến giới luật (Vinaya). Tất cả những lời mà hắn nói lên đều đáng để ghi nhớ, đúng lúc, hàm chứa các luận cứ cần thiết, được quy định rõ rệt và bổ ích.
            « Hắn tránh không hủy hoại cỏ hoa và cây cối. Hắn chỉ ăn một bữa mỗi ngày, không ăn chiều và ăn ngoài thời gian quy định. Hắn không ca hát, nhảy nhót hay chơi nhạc. Hắn không xem hát xướng mang tính cách kích động. Hắn không đeo vòng hoa, xức nước hoa, trang điểm, đeo nữ trang và dùng mỹ phẩm. Hắn từ bỏ giường rộng, giường cao. Hắn từ bỏ vàng bạc. Hắn không ăn các hạt còn sống (giết một mầm sống dù đấy là thực vật). Hắn không ăn thịt sống. Hắn xa lánh đàn bà con gái. Hắn không dùng người nô lệ, dù đấy là đàn ông hay đàn bà, hắn không nhận dê cái hay dê đực. Hắn không nhận gà trống hay heo lợn. Hắn không nhận voi, bò cái, ngựa đực hay ngựa cái. Hắn khước từ ruộng vườn và đất đai. Hắn khước từ không nhận chuyển lời nhắn gửi. Hắn từ bỏ mọi việc mua bán. Hắn không cân đo gian trá, đánh tráo bạc tiền hay sửa gian dụng cụ cân lường. Hắn tránh không giả mạo, lường gạt hay lừa đảo. Hắn tránh không gây ra tật nguyền, hành quyết, xiềng xích, tấn công người đi đường, cướp bóc hay phạm vào các hành động hung bạo. Hắn biết an phận với chiếc cà-sa che thân và chiếc bình bát khất thực giúp mình lót dạ, và dù phải đi đến nơi nào thì cũng luôn phải mang theo những thứ ấy. Tương tự như một con chim, dù có bay đi đâu thì nó cũng bay bằng đôi cánh của chính nó, một người tu hành cũng thế phải biết an phận với chiếc cà-sa che thân và chiếc bình bát khất thực hầu tìm lấy miếng ăn, dù phải đi đến nơi nào thì cũng phải luôn mang theo những thứ ấy.
            Khi nào tuân thủ được toàn bộ các giới luật tinh khiết trên đây thì nhất định hắn cũng sẽ cảm nhận được một niềm hạnh phúc trong nội tâm mình.
            « Khi hắn trông thấy một biểu hiện bên ngoài bằng mắt..., khi hắn nghe thấy một âm thanh bằng tai..., khi hắn ngửi thấy một mùi bằng mũi..., khi hắn nếm một vị bằng lưỡi..., nhận ra một sự đụng chạm qua thân xác..., hoặc nhận biết được một thứ gì đó có thể nhận biết được bằng khả năng nhận biết của mình thì hắn cũng sẽ không bám víu vào những dấu hiệu chính yếu, cũng không bám víu vào các chi tiết biểu hiện khác gây ra sự thèm muốn, cũng không bám víu vào sự bất toại nguyện hoặc là các tác nhân khác mang tính cách không tốt lành hay độc hại có thể chi phối mình, cho đến khi nào hắn chưa đủ khả năng để chủ động được chúng. Hắn quyết tâm phát huy sự chủ động ấy, duy trì sức mạnh của nó và chú tâm vào việc sử dụng toàn diện khả năng của nó (các lời giáo huấn này được giải thích cặn kẽ trong Thanh Tịnh Đạo Visud I, 53 – ghi chú thêm của Christian Maes).
            « Khi đi tới hay đi lui thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt (2). Khi nhìn ra phía trước hay nhìn sang hai bên thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Khi co duỗi chân tay thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Khi mặc chiếc áo cà-sa, khoác thêm áo ngoài hay đưa tay ôm bình bát thì hắn cũng đều thực thi với sự sáng suốt. Khi ăn, uống, nhai hay thưởng thức miếng ăn thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Khi tiểu tiện hay đại tiện thì hắn cũng thực thi với sự sáng suốt. Lúc đi hay đứng, ngồi hay nằm, đang thức, đang nói năng hay giữ yên lặng thì hắn cũng đều thực thi với sự sáng suốt.
            « Khi đã tuân thủ được toàn diện các giới luật tinh khiết trên đây và hơn thế nữa còn kiểm soát được sự cảm nhận và các hành động của mình như trên đây một cách minh mẫn và giữ được một tâm linh luôn tỉnh thức và cảnh giác thì hắn sẽ tìm cho mình một nơi biệt lập: chẳng hạn như một khu rừng, một gốc cây, một quả núi, một cái hang, một khe suối, một nghĩa địa, một khu đồi rợp bóng, một túp lều tranh hay một gian nhà cỏ. Nơi ấy sau khi khất thực về và ăn xong thì hắn tréo chân và ngồi xuống, thẳng lưng để chú tâm vào sự cảnh giác trước mặt mình.
            « Loại bỏ được mọi sự thèm muốn đối với thế giới này, hắn an nhiên không phát lộ một sự thèm muốn nào, hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng mắc của sự thèm muốn. Loại bỏ được khuyết điểm của mọi sự ghét bỏ hắn an nhiên không phát lộ một sự ghét bỏ nào, hắn quan tâm đến sự an vui của tất cả những gì hiện hữu biết hít thở, và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng mắc của sự ghét bỏ. Loại bỏ được sự mê muội và đờ đẫn, hắn an nhiên không phát lộ một sự mê muội hay đờ đẫn nào, hắn cảm nhận mọi sự vật một cách tỉnh táo, giữ được sự cảnh giác, tâm linh luôn tỉnh thức, và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng của sự mê muội và đờ đẫn. Loại bỏ được mọi sự dao động và lo lắng, hắn an nhiên không phát lộ một sự dao động nào, sự chú tâm của hắn trở nên thật an bình và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi vướng mắc của sự dao động và lo lắng. Loại bỏ được mọi sự do dự hắn an nhiên không phát lộ một sự do dự nào, cũng không còn thắc mắc một điều nào nữa, và hắn loại bỏ ra khỏi sự chú tâm mọi do dự trước sự cám dỗ của lợi lộc.
            « Hắn chỉ có thể loại trừ được năm thứ chướng ngại ấy (3) - tức những thứ làm ô nhiễm sự chú tâm khiến cho sự minh mẫn phải bị suy giảm - khi nào hắn biết tách rời mình ra khỏi các thứ giác cảm, tách rời mình ra khỏi những tác nhân độc hại, và chỉ khi ấy thì hắn mới có thể đạt được thể dạng jhâna thứ nhất (đệ nhất thiền) - thể dạng này gồm có sự chú-tâm-vững-chắc và sự duy-trì-vững-bền và một niềm hân-hoan tràn đầy phúc-hạnh phát sinh từ sự biệt lập -, và hắn sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy chính là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế một đệ tử tinh khiết vẫn chưa có đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đầng Thế Tôn được đưa ra thật đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Hơn thế nữa, này vị Bà-la-môn, bằng cách làm biến mất sự chú-tâm-vững-chắc và sự duy-trì-vững-bền, người tu hành sẽ đạt được thể dạng jhâna thứ hai (đệ nhị thiền) - thể dạng này gồm có sự tự-tin-trong-sáng thuộc nội tâm và sự vượt-thoát-độc-đáo của tâm thức, thoát ra khỏi sự chú-tâm-vững-chắc và sự duy-trì-bền-vững, và đấy cũng là môt sự hân-hoan ngập tràn phúc-hạnh phát sinh từ sự chú tâm, hắn sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy chính là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai. Tuy thế một người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Hơn thế nữa, này vị Bà-la-môn, bằng cách loại bỏ được cả sự hân-hoan, người tu hành sẽ duy trì được một sự quán-thấy-trung-hòa. Cảnh giác và hoàn toàn tỉnh thức, người ấy cảm nhận được một niềm phúc-hạnh trên thân xác và đạt được thể dạng jhâna thứ ba (đệ tam thiền), đối với thể dạng ấy thì những người Không-Còn-Bị-Ô-Nhiễm sẽ gọi đấy là: « Thể dạng duy trì được niềm phúc hạnh trong sự trung hòa và cảnh giác », và người này sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Hơn thế nữa, này vị Bà-la-môn, bằng cách loại bỏ được sự hân-hoan và đau đớn, và hơn nữa nhờ đã loại bỏ từ trước được cả sự toại nguyện cũng như bất toại nguyện, người tu hành sẽ đạt được thế dạng thứ tư của jhâna (đệ tứ thiền), thể dạng ấy không khó chịu cũng không thích thú, đấy là thể dạng tinh khiết của sự cảnh giác phát sinh từ một sự quán-thấy-trung-hòa, và người này sẽ an trú trong thể dạng ấy. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy nhiên người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn đã được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Khi sự chú tâm đạt được thể dạng tập trung cao độ trên đây và trở nên hoàn toàn tinh khiết, không còn mang một tì vết nào, không còn một mảy may ô nhiễm nhỏ nhoi nào, thì sự chú tâm ấy cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ sử dụng, bền vững, không biến động, và người tu hành sẽ hướng nó vào sự hiểu-biết-gợi-lại-bằng-trí-nhớ về các trú xứ trước đây (Thanh Tịnh Đạo Visud XIII, 12.)  Người ấy nhớ lại được các thể loại trú xứ từ trước, chẳng hạn đấy là một sự sinh, hai sự sinh, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn sự sinh, xuyên qua nhiều kỷ nguyên hủy hoại và hình thành: « Tôi mang một tên họ nào đó, thuộc vào dòng dõi nào đó, màu da như thế này, dinh dưỡng như thế kia, tôi từng được hạnh phúc hay phải chịu sự bất hạnh ra sao, tôi sống được bao lâu. Sau khi qua đời thì tôi sinh ra ở một nơi nào đó và tại nơi ấy tôi mang tên như thế này, thuộc dòng dõi này, màu da thì thế nọ, ăn uống như thế ấy, đạt được hạnh phúc như thế này, phải chịu bất hạnh như thế kia, và kiếp sống của tôi kéo dài được từng ấy. Sau khi qua đời thì tôi lại sinh ra tại chính nơi đây ». Đấy là cách mà người ấy nhớ lại các trú xứ khác nhau từ trước qua các thể dạng khác nhau và bằng những tên gọi khác nhau. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            « Khi sự chú tâm đạt được thể dạng tập trung cao độ trên đây và trở nên hoàn toàn tinh khiết, không còn mang một tì vết nào, không còn một mảy may ô nhiễm nhỏ nhoi nào, thì sự chú tâm ấy cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ sử dụng, bền vững, không biến động, và người tu hành sẽ hướng nó vào sự hiểu biết về cái chết và sự tái sinh cùa các chúng sinh (Thanh Tịnh Đạo, Visud XIII, 71). Người tu hành, bằng con mắt thiêng liêng, đã được tinh khiết hóa và vượt cao hơn khả năng con người, sẽ trông thấy được chúng sinh chết và tái sinh trong một cấp bậc như thế nào: thấp lùn hay cao ráo, xinh đẹp hay xấu xí, giàu có hay cơ hàn. Vị ấy nhìn thấy được quá trình diễn tiến trong cuộc sống của từng chúng sinh phù hợp với nghiệp của họ: « Các chúng sinh hành động một cách tệ hại bằng thân xác, ngôn từ và tâm thần, chỉ trích các vị Tinh Khiết (người Tu Hành và các Thánh Nhân), mang những sự tin tưởng sai lầm và hành động dưới sự chi phối của những sự tin tưởng sai lầm, thì sau khi thân xác mòn mỏi và chết đi thì sẽ lâm vào cảnh thua thiệt, một kiếp sống tồi tệ, suy sụp, chẳng khác gì nơi cõi địa ngục. Các chúng sinh nào hành động một cách tốt lành bằng thân xác, ngôn từ và tâm thần, không chỉ trích các vị Tinh Khiết, mang những tin tưởng đúng đắn và hành động dưới ảnh hưởng của những sự tin tưởng đúng đắn, thì sau khi thân xác mòn mỏi và chết đi thì sẽ đưa đến một kiếp sống tốt đẹp hơn nơi cõi thiên nhân. « Đấy là cách mà bằng con mắt linh thiêng... vị ấy nhìn thấy được quá trình diễn tiến trong cuộc sống của từng chúng sinh phù hợp với nghiệp của họ. Này vị Bà-là-môn, đấy là những gì người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn không đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn bước đúng theo con đường.
            « Khi sự chú tâm đạt được thể dạng tập trung cao độ trên đây và trở nên hoàn toàn tinh khiết, không còn mang một tì vết nào, không còn một mảy may ô nhiễm nhỏ nhoi nào, thì sự chú tâm ấy cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ sử dụng, bền vững, không biến động, và người tu hành sẽ hướng nó vào sự hiểu biết về cách loại bỏ mọi ô nhiễm. Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự bất hạnh » (4). Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là nguồn gốc mang lại sự bất hạnh ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự chấm dứt mọi sự bất hạnh ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi sự bất hạnh ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự ô nhiễm ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là nguồn gốc đưa đến sự ô nhiễm ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: « Đây là sự chấm dứt mọi sự ô nhiễm ». Người ấy hiểu thật sâu xa, đúng thực: «  Đây là con đường đưa đến sự chấm dứt mọi sự ô nhiễm ». Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Tuy thế người đệ tử tinh khiết vẫn chưa đủ khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn bước đúng theo con đường.
            « Khi đã hiểu được điều ấy, nhìn thấy đưọc điều ấy thì tâm thức của người ấy cũng sẽ được giải thoát khỏi mọi sự ô nhiễm gây ra bởi giác cảm, tâm thức của người ấy sẽ được giải thoát khỏi mọi ô nhiễm phát sinh từ sự hiện hữu, tâm thức của người ấy được giải thoát khỏi mọi sự mù quáng. Sự Giải Thoát phát sinh từ sự hiểu biết : hiểu biết tức có nghĩa là « đạt được giải thoát ». Người ấy biết được một cách chắc chắn là sự sinh từ nay đã bị hủy diệt, cuộc sống thánh thiện trước đây cũng đã chấm dứt, và mình đã làm xong tất cả những gì phải làm, và chẳng còn gì sót lại để còn phải tiếp tục làm trong thế gian này. Này vị Bà-la-môn, đấy là những gì mà người ta gọi là vết chân của Đấng Như Lai, vết cọ xát của Đấng Như Lai, vết thân cây tróc vỏ ghi khắc bởi Đấng Như Lai. Này vị Bà-la-môn, và đấy cũng chính là thể dạng sau cùng và nhờ vào đó mà người đệ tử tinh khiết đạt được hoàn toàn khả năng để kết luận rằng Đấng Thế Tôn là một vị Phật Toàn Thiện, Đạo Pháp của Đấng Thế Tôn đã được đưa ra một cách đúng đắn và Tăng Đoàn thì bước đúng theo con đường.
            Này vị Bà-la-môn, kể từ lúc này thì hình ảnh của những vết chân voi đã hoàn toàn đầy đủ từng chi tiết »
            Đấng Thế Tôn thuyết giảng như thế, và vị Bà-la-môn Jânussoni đã thốt lên như sau :
            - Tuyệt vời thay, thưa Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm ! Tuyệt vời thay, thưa Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm ! Tương tự như những gì đổ xuống lại được dựng lên, những gì bị che khuất lại được tìm thấy, chẳng khác gì như chỉ đường cho một người đi lạc, thắp lên một ngọn đèn trong bóng tối giúp những ai có mắt đều có thể nhìn thấy!
Đấy cũng chính là cách mà Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm trình bày giáo huấn bằng nhiều phương pháp khác nhau. Tôi xin quy y nơi Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm, nơi Đạo Pháp và nơi Tăng Đoàn gồm những người xuất gia. Kể từ giây phút này, xin Đấng-Tôn-Kính Cồ-đàm hãy xem tôi như một đệ tử biết giữ gìn sự quy y của mình cho đến khi nào vẫn còn một luồng sinh khí hiện hữu với hắn.
Ghi chú của Christian Maes
            1-  Thật khó để thực hiện một nếp sống thánh thiện trong bối cảnh gia đình, nơi đó « bụi bặm » của sự bám víu, ghét bỏ và ảo giác làm nhơ bẩn tất cả mọi thứ.
2-  Lúc đang đi hay khi khom xuống, dù là theo hướng này hay theo hướng kia thì người ấy cũng luôn nhớ đến phép tu tập của mình để quán xét xem cái động tác ấy có đúng với phép tu tập của mình hay không. Hắn không tưởng tượng ra một người đang bước tới hay đang thụt lùi, mà phải nhìn thấy được đấy chỉ là một hành động tâm thần (tác ý) hướng dẫn thành phần gió (« cử động » được xem như là thành phần « khí » của tứ đại) và thành phần gió thì làm chuyển động cấu hợp thân xác.
Người ta kể lại rằng có một nhà sư uyên bác đang đàm đạo với các đệ tử của mình thì bổng nhiên gập cánh tay lại. Sau đó thì ông lại duỗi ra thật chậm chạp và gập lại cũng thật từ tốn. Đám đệ tử ngơ ngác, nhà sư bèn giải thích cho họ như sau: « Này các bạn, khi tôi đã chọn một đối tượng để tập luyện thì sau đó dù có thực thi một cử động nào thì tôi cũng không làm cho việc theo dõi đối tượng ấy phải bị gián đoạn. Thế nhưng trong lúc mà tôi đang nói chuyện với các bạn thì tôi đột nhiên gập tay lại và quên mất đối tượng. Đấy là lý do tại sao tôi lại phải đưa cánh tay trở về vị trí cũ và sau đó thì mới gập trở lại, và lần này thì tôi theo dõi được đối tượng ».
3-  Sự loại bỏ năm thứ chướng ngại xác định một « thể dạng chú tâm gần kề » (Visud IV, 42) giúp đạt được jhâna thứ nhất (tức cấp bậc thứ nhất trong thể dạng lắng sâu vào sự trầm tư).
            4-  Sự bất hạnh, hay dukkham, tạo ra sự tiếp nối liên tục của từng khoảnh khắc tri thức và nó bao gồm tất cả các thứ bất hạnh khác như khổ nhọc, đớn đau, thích thú, v.v...
Vài lời ghi chú của người  dịch
Trên đây quả thật là một bài kinh thật trọn vẹn và trong sáng, bố cục thật tuyệt vời, không có gì để bình giải thêm, nếu không thì cũng chỉ cần nhấn mạnh đến sự biến đổi của xã hội con người sau hơn hai-nghìn-năm-trăm năm. Ngày nay trộm cắp không còn nhất thiết chỉ có nghĩa là thò tay cầm nhầm những gì không phải của mình mà còn có nghĩa là làm ăn bất chính, dùng quyền lực để nhận hối lộ, tước đoạt của cải của người lương thiện và vơ vét tài nguyên thiên nhiên. Con người cũng không còn đặt chiếc gậy xuống hay buông thanh kiếm xuống mà tranh nhau chế tạo bom hạt nhân. Hơn nữa họ cũng không cần phải sử dụng những lời dối gạt và độc ác, cũng không cần phải thuật lại ở nơi này những gì nghe thấy tại nơi khác hầu không làm hại các người này, cũng không thuật lại tại nơi khác những gì nghe thấy ở nơi này hầu không làm hại những người kia, bởi vì hệ thống truyền thông, giáo dục và tuyên truyền thật tinh xảo với các phương tiện và kỹ thuật hiện đại đã thay cho họ để làm cái công việc « thuật lại » ấy.
Vì thế thiết nghĩ nếu muốn bảo tồn được nhân tính con người thì chúng ta cũng nên mở rộng lòng mình giúp cho con voi thật to có thể bước vào để dẫm lên tâm thức mình, đánh thức lương tri của mình, cọ xát thật mạnh vào con tim của mình, hầu giúp mình trở thành một con người đích thật, một con người biết nhìn vào sự bất hạnh của tất cả những sự hiện hữu biết hít thở, bằng con tim rướm máu của chính mình.                     
Christian Maes
  Bures-Sur-Yvette, 27.02.12