GNO - Ngày 13-2-2012, tại tổ đình Tường Vân, TP.Huế, môn đồ tứ chúng bổn tự đã trang nghiêm cử hành lễ tưởng niệm 39 năm ngày Đại lão HT.Thích Tịnh Khiết viên tịch.
Chư tôn giáo phẩm Thường trực Ban Trị sự THPG Thừa Thiên Huế, các tổ đình tự viện và đông đảo Phật tử các đạo tràng, đoàn chúng đã đến đảnh lễ và tưởng niệm.
Đại lão HT.Thích Tịnh Khiết trước phương trượng ở chùa Tường Vân HuếĐại lão HT.Thích Tịnh Khiết, thế danh Nguyễn Văn Kỉnh, sinh ngày 17 tháng 11 năm Tân Mão (17-12-1891) tại làng Dưỡng Mong, xã Phú Mỹ, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Năm Bính Ngọ (1906), xuất gia với Đại lão HT.Thanh Thái Phước Chỉ (1858-1921), tại chùa Tường Vân; Năm 19 tuổi (Canh Tuất-1910) được đặc cách thọ Tỳ-kheo Bồ-tát giới và được Bổn sư ban Pháp danh là Trừng Thông, Pháp tự là Chơn Thường.
Năm Canh Thân (1920), ngài đắc pháp, được Bổn sư ban pháp hiệu là Tịnh Khiết. Năm Quý Dậu (1933), ngài đảm nhận chức vị trú trì chùa Tường Vân.
Năm Mậu Dần (1938) sau khi xây dựng xong chùa Hội quán Từ Đàm, An Nam Phật học hội cung thỉnh ngài kiêm nhiệm trú trì và Chứng minh đạo sư của hội.
Năm Canh Thìn (1940), ngài làm Giám đốc Đạo hạnh cho Viện Cao đẳng Phật học tại tổ đình Báo Quốc.
Đầu năm Tân Mão (1951), Hòa thượng chứng minh và chủ tọa Hội nghị thành lập Giáo hội Tăng già Trung Việt tại chùa Linh Quang, Huế.
Năm Kỷ Hợi (1959) Đại hội kỳ III của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam họp tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn, toàn thể Hội nghị đã cung thỉnh Hòa thượng đảm nhận ngôi vị Hội chủ.
Những năm sau đó, những cuộc đàn áp, khủng bố liên tiếp xảy ra, nặng nề nhất là ở các tỉnh thuộc Trung nguyên và Cao nguyên Trung phần ngày càng nghiêm trọng, vào ngày 2-2-1962 (6-1-Nhâm Dần), Đại lão Hòa thượng đã ký văn thư gởi Ngô Đình Diệm và Quốc hội Việt Nam Cộng hòa, với khuyến cáo “Tôi muốn tránh cho lịch sử dân tộc một chấm đen, đồng thời muốn ngăn ngừa một tai họa cho quốc gia, khi mà hàng Phật tử thấy cần bảo vệ đúng mức tôn giáo của mình!”
Thế nhưng chính quyền Ngô Đình Diệm đã không chịu lắng nghe, tiếp tục khủng bố, đàn áp lại càng diễn ra khốc liệt hơn. Vì thế, cuộc đấu tranh của Phật giáo mùa Hè năm Quý Mão (1963) đã bùng phát mạnh mẽ.
Trên cương vị lãnh đạo tối cao, bằng trí tuệ, tài năng và đức độ cao thâm của một bậc Tăng-già 72 tuổi, Hòa thượng đã dấn thân không mỏi mệt để dẫn dắt cho phong trào, vẫn luôn đồng cam cộng khổ cùng chư tôn đức Tăng Ni và Phật tử để lèo lái cho phong trào đến ngày thành tựu.
Đầu năm Giáp Thìn (1964), Hội nghị của 11 Giáo phái và Hội đoàn Phật giáo tại Sài Gòn, Hòa thượng cung cử lên ngôi vị Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN.
Đại lão Hòa thượng viên tịch vào lúc 20 giờ, 45 phút ngày 23 tháng Giêng năm Quý Sửu (ngày 25-2-1973), trụ thế 82 tuổi đời và 63 tuổi đạo.
Hàng ngàn người đã nhận ân giáo dưỡng, đặc biệt là sự khuyến tấn tu học, nhiệt tâm phụng sự Đạo pháp và Dân tộc nơi ngài, nhiều đệ tử của Đại lão Hoà thượng đã phần nào noi gương ngài có những đóng góp cho Phật giáo, trong đó phải kể đến HT.Thích Minh Châu, HT.Thích Chơn Thiện, HT.Thích Chơn Tế, HT.Thích Chơn Hương…
Hôm nay, Tăng chúng tổ đình Tường Vân, Huế và chư tôn đức Tăng Ni thành kính đảnh lễ kỷ niệm 39 năm ngày Đại lão Hòa thượng viên tịch để tưởng niệm công hạnh tu tập và hoằng dương Phật pháp của ngài, đặc biệt là khả năng nhiếp phục nội ma, ngoại chướng và vô cùng sáng suốt để lèo lái con thuyền Giáo hội đến một thời kỳ hưng thịnh, đóng góp xứng đáng công sức vào trang lịch sử vàng son của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại...Không Lực
Hiển thị các bài đăng có nhãn 9.2.TIỂU SỬ CÁC BẬC TÔN TÚC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn 9.2.TIỂU SỬ CÁC BẬC TÔN TÚC. Hiển thị tất cả bài đăng
Thứ Năm, 8 tháng 3, 2012
Tưởng niệm HT.Thích Tịnh Khiết
Thứ Sáu, 2 tháng 3, 2012
Hòa thượng Thích Thanh Từ
Hòa thượng húy là Trần Hữu Phước, pháp danh Thích Thanh Từ, sau đổi lại húy là Trần Thanh Từ. Sinh ngày 24 tháng 07 năm Giáp Tý (1924), tại ấp Tích Khánh, làng Tích Thiện, tỉnh Cần Thơ (nay là tỉnh Vĩnh Long).
Thân phụ của Hòa thượng húy Trần Văn Mão, từ nhỏ theo nghiệp Nho, giữ nếp sống thanh bần. Cụ ông theo đạo Cao Đài, lập gia đình hơi muộn. Thân mẫu của Hòa thượng húy Nguyễn Thị Đủ quê làng Thiện Mỹ, dòng thanh bạch, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ. Cụ bà chân chất hiền lành, suốt đời tận tụy hi sinh vì chồng vì con.
Hòa thượng sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khó khăn nghèo túng, nhưng Người đã nổi bật những nét riêng từ thuở ấu thơ: trầm mặc, ít nói, thích đọc sách, có chí xuất trần và đặc biệt rất hiếu thảo với Cha Mẹ.
Khoảng năm 9 tuổi, nhân theo Cụ ông lên Mốp Văn, Long Xuyên thọ tang người Bác thứ ba, Hòa thượng được đến chùa Sân Tiên trên núi Ba Thê cúng cầu siêu cho Bác. Duyên xưa gặp lại, nghe tiếng chuông chùa ngân dài giữa khoảng thinh không cô tịch, Hòa thượng rúng động như có một nỗi niềm giao cảm tự bao giờ. Bất thần Người xuất khẩu thành thơ:
Non đảnh là nơi thú lắm ai,
Đó cảnh nhàn du của khách tài.
Tiếng mõ công phu người tỉnh giấc,
Chuông hồi văng vẳng quá bi ai!
Có thể nói rằng chí xuất trần của Hòa thượng nổi dậy kể từ đây.
Sớm chìm nổi theo dòng đời và nhất là sống trong thời loạn lạc, Hòa thượng càng thấm thía, càng đau xót nỗi thống khổ của con người. Chí xuất trần của Hòa thượng vì thế càng trở nên mãnh liệt hơn và Người luôn ôm ấp một tâm niệm: “Nếu tôi không thể làm một viên linh đơn cứu tất cả bệnh của chúng sanh, ít ra cũng là một viên thuốc bổ giúp cho người bớt khổ.”
Từ dạo đó trái nhân duyên đã chín muồi, cuộc đời của Hòa thượng rẽ sang một con đường sáng.
Ngày 15 tháng 07 năm Kỷ Sửu 1949, sau ba tháng công quả tại chùa Phật Quang, Hòa thượng được Tổ Thiện Hoa chánh thức cho xuất gia với pháp danh là Thanh Từ. Thế là ước nguyện của Người đã được thành tựu. Từ đây Hòa thượng siêng năng theo Tổ công phu bái sám, vừa học giáo lý, vừa dạy trẻ em. Ngoài ra còn phụ trông nom coi sóc mấy chục chú Tiểu trong chùa. Công việc tuy nhiều, song Hòa thượng luôn để tâm học Giáo điển.
Năm 1949-1950, Hòa thượng theo học lớp Sơ đẳng năm thứ ba tại Phật học đường Phật Quang.
Đến năm 1951, Hòa thượng bắt đầu học lên Trung đẳng.
Một khuya nọ, nhân đọc kinh Lăng Nghiêm đến chỗ Phật chỉ Tôn giả A-nan nhận ra Bản tâm chân thật của chính mình qua Tánh thấy, Tánh nghe, bất giác Hòa thượng xúc động rơi lệ. Phải chăng đây là dấu hiệu cho biết chủng duyên Phật pháp nhiều đời của Người đã bắt đầu nẩy mầm?
Cũng trong năm này chùa Phật Quang bị binh biến, Tổ Thiện Hoa phải dời Tăng chúng lên chùa Phước Hậu, Hòa thượng cũng được theo và thọ giới Sa-di tại đây do Tổ Khánh Anh làm Hòa thượng đàn đầu.
Năm 1953 Hòa thượng theo Bổn sư là Tổ Thiện Hoa lên Sài Gòn, tiếp tục học lớp Trung đẳng tại Phật học đường Nam Việt chùa Ấn Quang. Tại đây, Hòa thượng được thọ giới Cụ túc do Tổ Huệ Quang làm Hòa thượng đàn đầu.
Từ năm 1954-1959, Hòa thượng học Cao đẳng Phật học tại Phật học đường Nam Việt. Những vị đồng khóa cùng ra trường với Hòa thượng như quí ngài Huyền Vi, Thiền Định, Từ Thông...
Như vậy là ngót mười năm Hòa thượng đã trải qua hai năm Sơ đẳng, ba năm Trung đẳng, bốn năm Cao đẳng. Tốt nghiệp các lớp Phật học xong là đoạn đường Tăng sinh đã hoàn tất. Hòa thượng bước sang thời kỳ hóa đạo. Hòa thượng là một vị Giảng sư trong Giảng sư đoàn của ban Hoằng pháp, có uy tín lớn thời bấy giờ và được sự mến mộ của Phật tử xa gần.
Năm 1960-1964, Hòa thượng đã giữ những chức vụ trong Phật giáo:
- Phó vụ trưởng Phật học vụ.
- Vụ trưởng Phật học vụ.
- Giáo sư kiêm Quản viện Phật học viện Huệ Nghiêm.
- Giảng sư Viện đại học Vạn Hạnh và các Phật học đường Dược Sư, Từ Nghiêm,...
Sau lễ mãn khóa Cao Trung Chuyên khoa tại Huệ Nghiêm và Dược Sư, Hòa thượng thầm nghĩ với ngần ấy đóng góp cũng phần nào tạm đủ nói lên tấm lòng tri ân và báo ân của mình đối với Thầy Tổ rồi. Hòa thượng liền xin phép với Tổ Thiện Hoa được lui về núi ẩn tu. Chí đã quyết, Hòa thượng dằn lòng dứt áo ra đi, âm thầm một mình một bóng lên chốn non thâm.
Hòa thượng đã thật sự giã từ Phật học viện, giã từ phấn bảng với năm tháng miệt mài vì tứ chúng. Nhưng hai tiếng “Tăng Ni” vẫn xoáy sâu vào lòng Người, để sau này chút duyên “Thầy Trò” ấy lại gặp nhau và càng thêm son sắt trên đỉnh Tương Kỳ.
Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Đại Tạng Kinh, nhưng đã ấp ủ một Thiền tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.
Đến rằm tháng tư năm Mậu Thân, Hòa thượng tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: “Nếu đạo không sáng, thệ không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép. Toàn thể môn nhân qui ngưỡng lên non một lòng mong đợi.
Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát-nhã. Từ con mắt Bát-nhã trông qua Tạng kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người.
Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuôn chảy. Pháp Lạc thất thật xứng đáng là linh hồn của dòng thiền Chân Không. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu của Hòa thượng. Hoài bão tu Thiền đã thai nghén bao năm trong thầm lặng đơn độc của Người, đến đây mới thật sự có điểm khởi phát và lớn dậy, để sau này Phật giáo Việt Nam vinh dự có một ngôi sao sáng mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.
Hòa thượng đã từng nói: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni và Phật tử. Ai biết đòi thì tôi trả trước, ai chưa biết đòi thì trả sau.” Suốt đời Ngài đều dốc hết sức mình lo cho Phật pháp, đặc biệt là làm sống lại Thiền tông đời Trần, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành tiến bộ. Tăng Ni tu hành có tiến bộ thì Phật pháp mới còn và lớn mạnh được. Sự tu hành tiến bộ của Tăng Ni là niềm vui của Ngài. Ngài nói: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu.”
Các Thiền viện sau đây chính thức được Hòa thượng thành lập, làm nơi giáo hóa và hướng dẫn tu hành:
- Thiền viện Chân Không, núi Tương Kỳ - Vũng Tàu, thành lập vào tháng 04 năm 1971; dời về Thường Chiếu năm 1986, được phép tái thiết năm 1995.
- Thiền viện Thường Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 08 năm 1974.
- Thiền viện Viên Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 04 năm 1975.
- Thiền viện Huệ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 04 năm 1979.
- Thiền viện Linh Chiếu, Long Thành - Đồng Nai, thành lập tháng 02 năm 1980.
- Thiền viện Phổ Chiếu, Bà Rịa - Vũng Tàu, thành lập tháng 06 năm 1980.
- Thiền viện Tịch Chiếu, Long Hải, thành lập tháng 07 năm 1987.
- Thiền viện Liễu Đức, Long Thành - Đồng Nai.
- Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt - Lâm Đồng, thành lập tháng 04 năm 1993.
- Chùa Lân - Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, 2002.
- Thiền viện Tuệ Quang, Linh Trung, Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
- Thiền viện Hương Hải, Long Thành - Đồng Nai.
- Thiền viện Đạo Huệ, Long Thành - Đồng Nai.
- Thiền viện Tuệ Thông, Long Thành - Đồng Nai.
- Thiền viện Đại Đăng, Bonsall, California, Hoa Kỳ, thành lập năm 2001.
- Thiền viện Quang Chiếu, Forthworth, Texas, Hoa Kỳ, thành lập năm 2000.
- Thiền viện Bồ Đề, Boston, Hoa Kỳ, thành lập năm 2002.
- Thiền viện Diệu Nhân, Sacramento, Hoa Kỳ, thành lập năm 2002.
- Thiền tự Ngọc Chiếu, Garden Grove, California, Hoa Kỳ.
- Thiền tự Vô Ưu, San Jose, California, Hoa Kỳ.
- Thiền tự Đạo Viên, Québec, Gia Nã Đại, thành lập năm 2002.
- Thiền tự Thường Lạc - Pháp.
- Thiền tự Pháp Loa - Úc.
- Thiền tự Hiện Quang - Úc.
- Thiền tự Hỷ Xả - Úc.
- Thiền viện Tiêu Dao - Úc.
- Thiền tự Tuệ Căn - Úc.
Hòa thượng cũng đã góp sức trùng tu hai Tổ đình Phật Quang và Phước Hậu, Trà Ôn, Vĩnh Long.
Hòa thượng giảng và dịch rất nhiều bộ Kinh, Luận và Sử từ Hán văn sang Việt văn. Ngoài ra Hòa thượng còn giảng giải rất nhiều bài pháp phổ thông cho Tăng Ni và Phật tử.
Hòa thượng đã đi du hóa và thăm viếng các nước:
- Cam-pu-chia (1956)
- Trung Quốc (1993)
- Pháp (1994 - 2002)
- Thụy Sĩ (1994)
- Indonesia (1996)
- Gia Nã Đại (1994 - 2002)
- Hoa Kỳ (1994 - 2000 - 2001 - 2002)
- Úc Châu (1996 - 2002).
Tổng số Phật tử phát tâm qui y trong và ngoài nước là 84860 người. Trong đó, trong nước là 75260 người, nước ngoài là 9600 người.
Nguồn : Thuongchieu.org
Thứ Tư, 29 tháng 2, 2012
Tóm lược tiểu sử Hòa Thượng Giác Trang
HÒA THƯỢNG THÍCH GIÁC TRANG
Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN
(1933 – 2008)
Thành viên Hội đồng Chứng minh GHPGVN
(1933 – 2008)
I.- THÂN THẾ :
Hòa thượng Thích GIÁC TRANG, thế danh Hùynh Hữu Thọ, sinh năm Quý Dậu (1933) tại xã Nhựt Ninh, Huyện Tân Trụ, Tỉnh Long An. Thân phụ: Cụ ông Huỳnh văn Mới, pd Thiện Tâm. Thân mẫu: Cụ bà Nguyễn thị Ngôn, pháp danh Hiền Ngọc. Hòa thượng là người con thứ sáu trong gia đình tám anh em.
Gia đình Hòa thượng có phúc duyên nhiều đời với Phật pháp, từ những năm đầu thập niên năm mươi, Tổ sư Minh Đăng Quang hướng dẫn đoàn du tăng về hành đạo, thuyết pháp tại thị xã Tân An và huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, ông bà thân sinh và anh chị em Hòa thượng đều có duyên lành được diện kiến và nghe Tổ sư thuyết pháp, thọ nhận Tam quy ngũ giới, pháp danh. Kể từ đó, cả gia đình đều tu tập đời sống tại gia, riêng Hòa thượng được Tổ sư thọ ký Pháp danh Thiện Hữu. Cũng từ duyên lành nầy, là nấc thang đưa Hòa thượng tiến đến đời sống xuất gia.
Hòa thượng Thích GIÁC TRANG, thế danh Hùynh Hữu Thọ, sinh năm Quý Dậu (1933) tại xã Nhựt Ninh, Huyện Tân Trụ, Tỉnh Long An. Thân phụ: Cụ ông Huỳnh văn Mới, pd Thiện Tâm. Thân mẫu: Cụ bà Nguyễn thị Ngôn, pháp danh Hiền Ngọc. Hòa thượng là người con thứ sáu trong gia đình tám anh em.
Gia đình Hòa thượng có phúc duyên nhiều đời với Phật pháp, từ những năm đầu thập niên năm mươi, Tổ sư Minh Đăng Quang hướng dẫn đoàn du tăng về hành đạo, thuyết pháp tại thị xã Tân An và huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, ông bà thân sinh và anh chị em Hòa thượng đều có duyên lành được diện kiến và nghe Tổ sư thuyết pháp, thọ nhận Tam quy ngũ giới, pháp danh. Kể từ đó, cả gia đình đều tu tập đời sống tại gia, riêng Hòa thượng được Tổ sư thọ ký Pháp danh Thiện Hữu. Cũng từ duyên lành nầy, là nấc thang đưa Hòa thượng tiến đến đời sống xuất gia.
II.- XUẤT GIA HỌC ĐẠO :
Năm 1954, Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng. Trong thời gian nầy, thiện nam Thiện Hữu thường hay tới lui đạo tràng Tịnh Xá Ngọc Thành tại thị xã Tân An tham vấn đạo lý. Hơn một năm sau, nhân duyên hội tụ, Trưởng lão Giác Tánh, trưởng tử Đức Tổ sư hướng dẫn Đoàn du tăng hành đạo dừng chân Tịnh xá Ngọc Thành, cảm mến đức độ Trưởng lão, Hòa thượng xin Trưởng lão chứng minh thế phát xuất gia làm Tăng vào ngày mùng 10 tháng 9 năm 1955, với đạo hiệu pháp danh Giác Trang. Sau đó, Hòa thượng được theo hầu Trưởng lão Bổn sư trên đường hành đạo về các tỉnh miền Tây. Nhờ căn duyên sẵn có từ nhiều đời, nay hạt giống được ươm mầm tăng trưởng, tinh tấn cầu học cầu tu… đến ngày Rằm tháng Chạp năm 1955, Ngài được Chư tôn đức chứng minh thọ Y bát giới Sa di tại Tịnh xá Ngọc Quang, thị xã Sa Đéc. Năm 1956, 1957… Đoàn du Tăng do nhị Tổ Giác Chánh, Trưởng lão Giác Tánh và Tri Sự Giác Như hướng dẫn đi hành đạo ra miền Trung, Hòa thượng lại cũng có duyên lành theo hầu thầy đi vân du hóa duyên hành đạo. Năm 1958, Đoàn du tăng trở lại miền Tây và dừng chân tại Tịnh xá Liên Trung, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang, nay là Tịnh xá Ngọc Liên, Tp. Cần Thơ. Trong mùa An cư năm này, chính tại nơi đây, Hòa thượng được Chư tôn đức trong Giáo đoàn chứng minh truyền thọ Y bát Cụ túc giới Tỳ kheo.
Năm 1954, Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng. Trong thời gian nầy, thiện nam Thiện Hữu thường hay tới lui đạo tràng Tịnh Xá Ngọc Thành tại thị xã Tân An tham vấn đạo lý. Hơn một năm sau, nhân duyên hội tụ, Trưởng lão Giác Tánh, trưởng tử Đức Tổ sư hướng dẫn Đoàn du tăng hành đạo dừng chân Tịnh xá Ngọc Thành, cảm mến đức độ Trưởng lão, Hòa thượng xin Trưởng lão chứng minh thế phát xuất gia làm Tăng vào ngày mùng 10 tháng 9 năm 1955, với đạo hiệu pháp danh Giác Trang. Sau đó, Hòa thượng được theo hầu Trưởng lão Bổn sư trên đường hành đạo về các tỉnh miền Tây. Nhờ căn duyên sẵn có từ nhiều đời, nay hạt giống được ươm mầm tăng trưởng, tinh tấn cầu học cầu tu… đến ngày Rằm tháng Chạp năm 1955, Ngài được Chư tôn đức chứng minh thọ Y bát giới Sa di tại Tịnh xá Ngọc Quang, thị xã Sa Đéc. Năm 1956, 1957… Đoàn du Tăng do nhị Tổ Giác Chánh, Trưởng lão Giác Tánh và Tri Sự Giác Như hướng dẫn đi hành đạo ra miền Trung, Hòa thượng lại cũng có duyên lành theo hầu thầy đi vân du hóa duyên hành đạo. Năm 1958, Đoàn du tăng trở lại miền Tây và dừng chân tại Tịnh xá Liên Trung, huyện Thốt Nốt, tỉnh Hậu Giang, nay là Tịnh xá Ngọc Liên, Tp. Cần Thơ. Trong mùa An cư năm này, chính tại nơi đây, Hòa thượng được Chư tôn đức trong Giáo đoàn chứng minh truyền thọ Y bát Cụ túc giới Tỳ kheo.
III.- CÔNG HẠNH TU TẬP và HÀNH ĐẠO :
Sau 3 năm thọ Cụ túc giới, Hòa thượng dần dần trưởng thành trong giáo pháp. Đến năm 1960, Trưởng Lão Giác Tánh hướng dẫn Giáo đoàn ra miền Trung hành đạo và lập Giáo đoàn II, xây dựng đạo tràng Tịnh xá, mở mang mối đạo, Hòa thượng được ủy cử theo trợ lý Trưởng lão Tri sự Giác Như, quán xuyến các mặt sinh hoạt Phật sự trong Giáo đoàn I, phân cử bổ nhiệm trụ trì; đồng thời từ năm 1965 Hòa thượng cũng tự thân chính thức nhận nhiệm vụ trụ trì.
Sau 3 năm thọ Cụ túc giới, Hòa thượng dần dần trưởng thành trong giáo pháp. Đến năm 1960, Trưởng Lão Giác Tánh hướng dẫn Giáo đoàn ra miền Trung hành đạo và lập Giáo đoàn II, xây dựng đạo tràng Tịnh xá, mở mang mối đạo, Hòa thượng được ủy cử theo trợ lý Trưởng lão Tri sự Giác Như, quán xuyến các mặt sinh hoạt Phật sự trong Giáo đoàn I, phân cử bổ nhiệm trụ trì; đồng thời từ năm 1965 Hòa thượng cũng tự thân chính thức nhận nhiệm vụ trụ trì.
Hầu hết các Tịnh xá do Tổ sư sáng lập lưu lại đều thuộc Giáo đoàn I quản lý, Hòa thượng lần lượt được bổ nhiệm trụ trì: Tịnh Xá Ngọc Viên, Vĩnh Long; Tịnh xá Ngọc Quang, Sa Đéc; Tịnh xá Ngọc Thạnh, Tây Ninh; Tịnh xá Ngọc Thành, Long An; Tịnh xá Ngọc Tường, Mỹ Tho; Tịnh xá Ngọc Vân, Trà Vinh; Tịnh Xá Ngọc Trung, Thốt Nốt; Tịnh xá Ngọc Giang, Long Xuyên; Tịnh xá Ngọc Minh, Cần Thơ; Tịnh Xá Ngọc Liên, Bạc Liêu…v.v. Từ năm 1980 Hòa thượng về Trụ trì Tịnh xá Ngọc Chánh, Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh cho đến ngày viên tịch (1980 - 2008).
1.- Sự tinh tấn của bản thân qua sự tu tập Giới Định Huệ:
Điểm đặc sắc về tinh thần tu tập của Hòa thượng đối với giáo pháp chính là sự âm thầm hành trì phạm hạnh. Đến trụ xứ tại mỗi đạo tràng Tịnh xá, Hòa thượng luôn tự mình hành trì và khuyến tấn chư Tăng chúng trụ cùng hành trì chương trình tu học “Trú dạ lục thời” do Tổ Sư ấn định dành cho người xuất gia; dù ở đâu, lúc nào Ngài cũng giữ vững một lòng kiên định, tinh tấn, không xao lãng, không bỏ phí thời gian, nhất là thọ trì tịnh nghiệp thân khẩu ý, an trú trong giới luật, thiền định và cả những khi du hành giáo hóa. Với trọng trách của vị trụ trì, hằng ngày, Hòa thượng luôn để tâm chăm sóc trang nghiêm đạo tràng Tịnh xá, làm gương và hướng dẫn sự tu học cho bá tánh cư sĩ tại gia biết tu tiến tự thân và hộ trì Tam bảo.
Điểm đặc sắc về tinh thần tu tập của Hòa thượng đối với giáo pháp chính là sự âm thầm hành trì phạm hạnh. Đến trụ xứ tại mỗi đạo tràng Tịnh xá, Hòa thượng luôn tự mình hành trì và khuyến tấn chư Tăng chúng trụ cùng hành trì chương trình tu học “Trú dạ lục thời” do Tổ Sư ấn định dành cho người xuất gia; dù ở đâu, lúc nào Ngài cũng giữ vững một lòng kiên định, tinh tấn, không xao lãng, không bỏ phí thời gian, nhất là thọ trì tịnh nghiệp thân khẩu ý, an trú trong giới luật, thiền định và cả những khi du hành giáo hóa. Với trọng trách của vị trụ trì, hằng ngày, Hòa thượng luôn để tâm chăm sóc trang nghiêm đạo tràng Tịnh xá, làm gương và hướng dẫn sự tu học cho bá tánh cư sĩ tại gia biết tu tiến tự thân và hộ trì Tam bảo.
2.- Đối với Giáo đoàn, Hệ phái và Giáo hội:
Đối với tổ chức Giáo hội, Hệ phái và Tổ quốc quê hương… Hòa thượng luôn thể hiện tinh thần phụng sự “Đạo pháp và Dân tộc” của một thầy Tỳ kheo, Sa môn trong Chánh pháp với các phận sự - thành viên Ban Kiểm Tăng Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh; Cố vấn chứng minh Ban Đại diện Phật giáo Quận Bình Thạnh; thành viên Ban Từ thiện Xã hội Trung ương Giáo Hội và Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh; Cố vấn chứng minh Giáo đoàn I và Hệ phái Khất Sĩ - thành viên GHPGVN.
Đối với tổ chức Giáo hội, Hệ phái và Tổ quốc quê hương… Hòa thượng luôn thể hiện tinh thần phụng sự “Đạo pháp và Dân tộc” của một thầy Tỳ kheo, Sa môn trong Chánh pháp với các phận sự - thành viên Ban Kiểm Tăng Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh; Cố vấn chứng minh Ban Đại diện Phật giáo Quận Bình Thạnh; thành viên Ban Từ thiện Xã hội Trung ương Giáo Hội và Thành hội Phật giáo Tp. Hồ Chí Minh; Cố vấn chứng minh Giáo đoàn I và Hệ phái Khất Sĩ - thành viên GHPGVN.
Trong những thập niên từ 1980 đến năm 2000, khi sức khỏe còn tương đối tốt, Hòa thượng thường trực tiếp vận động ủng hộ và tham gia các chuyến thăm viếng, tặng quà cứu trợ đồng bào bị thiên tai bão lụt miền Tây và miền Trung bằng tất cả tấm lòng. Đối với các ngành họat động của Giáo hội, Ngài rất quan tâm và âm thầm ủng hộ định kỳ các khóa đào tạo, các Trường Phật học, thuộc ngành Giáo dục Tăng Ni; các khóa đào tạo, bồi dưỡng Giảng sư của ngành Hoằng pháp Trung ương, Thành phố và tờ Báo Giác Ngộ của Thành hội Phật giáo.
Trong 4 năm liền, từ năm Giáp Thân (2004) đến năm Đinh Hợi (2007), Hòa thượng được cung thỉnh làm Thiền chủ trường hạ tập trung của Hệ phái tại Tịnh xá Trung Tâm.
Về mặt tấn phong Giáo phẩm, Hòa thượng được Giáo hội tấn phong Giáo phẩm Thượng tọa tại Đại Hội kỳ III năm 1992; và Giáo phẩm Hòa thượng tại Đại Hội kỳ V năm 2002. Đặc biệt, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ V (2002) và kỳ VI (2007), Hòa thượng đã được Đại hội suy tôn vào Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
Về mặt tấn phong Giáo phẩm, Hòa thượng được Giáo hội tấn phong Giáo phẩm Thượng tọa tại Đại Hội kỳ III năm 1992; và Giáo phẩm Hòa thượng tại Đại Hội kỳ V năm 2002. Đặc biệt, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc kỳ V (2002) và kỳ VI (2007), Hòa thượng đã được Đại hội suy tôn vào Hội đồng Chứng minh GHPGVN.
3. Những điều tâm, nguyện những năm tháng cuối đời:
Từ đầu năm 2003 thân tứ đại của Hòa thượng theo duyên tăng giảm, Hòa thượng thường về tịnh dưỡng tại Tịnh xá Ngọc Tường, Thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang. Đến tháng 6 năm 2005 Hòa thượng vào Bệnh viện Ung Bướu khám bệnh. Bác sĩ cho biết Hòa thượng có bệnh nan y “Ung thư Gan” giai đoạn cuối, cần nên nhập viện để chửa trị, nếu chậm không còn kịp thời gian. Hòa thượng cho chư Tăng và phật tử cận sự biết việc nầy, nhưng Hòa thượng quyết định không nhập viện. Hòa thượng bày tỏ ý nguyện – nếu gặp phải bệnh nan y khó trị thì Hòa thượng xin được về lại Tổ đình Tịnh Xá Ngọc Viên, Vĩnh Long tịnh dưỡng, tự an trú thân tâm và quy tịch; công việc Trụ trì chăm sóc Tịnh xá Ngọc Chánh, Hòa thượng xin được ủy nhiệm cho Thượng tọa Thích Giác Tuân thay thế. Sau đó, đôi ba tháng Hòa thượng cho biết trong mình Hòa thượng vẫn khỏe. Nhân dịp, Chùa Như Lai Thiền Tự, ở Sandiego, Hoa Kỳ và Thiền Viện Minh Quang, ở Sydney - Úc tổ chức Lễ Khánh thành vào tháng 9 và tháng 11 năm 2005; cả 2 nơi đều mong muốn được cung thỉnh Hòa thượng cùng chư Tôn đức bên nhà sang chứng minh. Hòa thượng nói với chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái: "Dù thế nào thì bịnh cũng đã bịnh rồi, cho nên tôi muốn đi khích lệ tinh thần cho Chư Tăng đang hành Đạo nước ngoài rồi về quy tịch cũng được". Thế rồi, vào Quý IV/2005, Hòa thượng cùng chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái đi dự Lễ Khánh thành Như Lai Thiền Tự ở Hoa Kỳ và Thiền viện Minh Quang ở Úc. Dự lễ xong, trở về Việt Nam, sức khỏe Hòa thượng vẫn bình thường.
Từ đầu năm 2003 thân tứ đại của Hòa thượng theo duyên tăng giảm, Hòa thượng thường về tịnh dưỡng tại Tịnh xá Ngọc Tường, Thành phố Mỹ tho, tỉnh Tiền Giang. Đến tháng 6 năm 2005 Hòa thượng vào Bệnh viện Ung Bướu khám bệnh. Bác sĩ cho biết Hòa thượng có bệnh nan y “Ung thư Gan” giai đoạn cuối, cần nên nhập viện để chửa trị, nếu chậm không còn kịp thời gian. Hòa thượng cho chư Tăng và phật tử cận sự biết việc nầy, nhưng Hòa thượng quyết định không nhập viện. Hòa thượng bày tỏ ý nguyện – nếu gặp phải bệnh nan y khó trị thì Hòa thượng xin được về lại Tổ đình Tịnh Xá Ngọc Viên, Vĩnh Long tịnh dưỡng, tự an trú thân tâm và quy tịch; công việc Trụ trì chăm sóc Tịnh xá Ngọc Chánh, Hòa thượng xin được ủy nhiệm cho Thượng tọa Thích Giác Tuân thay thế. Sau đó, đôi ba tháng Hòa thượng cho biết trong mình Hòa thượng vẫn khỏe. Nhân dịp, Chùa Như Lai Thiền Tự, ở Sandiego, Hoa Kỳ và Thiền Viện Minh Quang, ở Sydney - Úc tổ chức Lễ Khánh thành vào tháng 9 và tháng 11 năm 2005; cả 2 nơi đều mong muốn được cung thỉnh Hòa thượng cùng chư Tôn đức bên nhà sang chứng minh. Hòa thượng nói với chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái: "Dù thế nào thì bịnh cũng đã bịnh rồi, cho nên tôi muốn đi khích lệ tinh thần cho Chư Tăng đang hành Đạo nước ngoài rồi về quy tịch cũng được". Thế rồi, vào Quý IV/2005, Hòa thượng cùng chư Tôn đức Giáo phẩm Hệ phái đi dự Lễ Khánh thành Như Lai Thiền Tự ở Hoa Kỳ và Thiền viện Minh Quang ở Úc. Dự lễ xong, trở về Việt Nam, sức khỏe Hòa thượng vẫn bình thường.
Rồi mùa An cư Kiết hạ PL. 2551 – Bính Tuất (2006), Hòa thượng tiếp tục được cung thỉnh làm Thiền chủ Trường hạ Hệ phái. Sau mùa An cư, sức khỏe Hòa thượng không được ổn định, Hòa thượng phải trở vào bệnh viện Chợ Rẫy để tiếp tục điều trị. Được đội ngũ Y Bác sĩ bệnh viện tận tình chăm sóc, bịnh tình đã đến giai đoạn thập tử nhất sinh lại cũng được qua khỏi. Sau khi bình phục, Hòa thượng đã bày tỏ tâm nguyện: Mong muốn được mạnh khỏe để đi dự Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ 2007 – 2012 được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội; đồng thời Hòa thượng cũng mong muốn góp một phần nhỏ công đức trong việc xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh. Nay thì tâm nguyện thứ nhất của Hòa thượng đã được tròn xong, còn việc góp phần xây dựng Học việc thì vẫn còn dang dỡ.
IV.- THỜI KỲ VIÊN TỊCH:
Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy:
Chư hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Và thật là nhân duyên cũng hết sức tình cờ như một Pháp duyên. Trong Chơn lý, Tổ sư Minh Đăng Quang có dạy: “tuổi 72 là tuổi an nghỉ Niết Nàn”. Huyễn thân tứ đại của Hòa thượng vừa tròn 72 tuổi thì cũng chính là lúc bắt đầu có bịnh và ba năm cuối cuộc đời của Hòa thượng như là một sự kiểm nghiệm cuối cùng về nỗi khổ đau của sanh già bệnh chết… Một sự thực nghiệm thân chứng – Mạnh rồi bịnh, bịnh rồi mạnh, mạnh rồi bịnh … rồi ra đi.
Trong Kinh Đại Bát Niết Bàn, Đức Phật có dạy:
Chư hành vô thường
Là pháp sinh diệt
Sinh diệt diệt rồi
Tịch diệt là vui.
Và thật là nhân duyên cũng hết sức tình cờ như một Pháp duyên. Trong Chơn lý, Tổ sư Minh Đăng Quang có dạy: “tuổi 72 là tuổi an nghỉ Niết Nàn”. Huyễn thân tứ đại của Hòa thượng vừa tròn 72 tuổi thì cũng chính là lúc bắt đầu có bịnh và ba năm cuối cuộc đời của Hòa thượng như là một sự kiểm nghiệm cuối cùng về nỗi khổ đau của sanh già bệnh chết… Một sự thực nghiệm thân chứng – Mạnh rồi bịnh, bịnh rồi mạnh, mạnh rồi bịnh … rồi ra đi.
Ngày 22 tháng 11 năm Đinh Hợi, bịnh duyên tái phát, Hòa thượng nhập viện trở lại, đến ngày 12 tháng chạp Hòa thượng xuất viện về lại Tịnh xá Ngọc Tường, trú xứ mà những năm tháng cuối đời Hòa thượng thường về tịnh dưỡng, nghe lòng thanh thảng, an tịnh. Đến 02giờ 25 phút ngày Rằm tháng chạp năm Đinh Hợi (nhằm ngày 22/01/2008), là giờ phút thiêng liêng mầu nhiệm, Hòa thượng hội nhập Phật cảnh Niết bàn, trụ thế 75 năm, Hạ lạp 50 năm.
Thế là duyên hóa độ của Hòa thượng đến đây đã mãn, Ngài trở về thế giới Niết Bàn vô tung bất diệt, nhưng công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm tư, ký ức của hàng pháp hữu trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử và môn đồ pháp quyến. Xin mãi mãi khắc ghi hình ảnh khả kính với gương lành đức độ và công đức của Ngài.
Nam Mô Tây Phương Cực lạc Thế giới Đại từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật Tác Đại Chứng Minh.
Nam Mô Tây Phương Cực lạc Thế giới Đại từ Đại Bi Tiếp Dẫn Đạo Sư A Di Đà Phật Tác Đại Chứng Minh.
Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012
Hòa Thượng Giác Giới
* Thế danh : Nguyễn Văn Mẹo
* Sinh ngày : 03 tháng 09 năm 1939
* Nơi sinh : xã Phú Khương, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
* Sinh ngày : 03 tháng 09 năm 1939
* Nơi sinh : xã Phú Khương, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
* Quê quán : xã Phú Khương, thị xã Bến Tre, tỉnh Bến Tre
* CMND số: 330028892, cấp ngày 26/05/2003, tại tỉnh Vĩnh Long
* Hộ khẩu thường trú : Tịnh xá Ngọc Viên - 14/20/2, xóm Chài, phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
* Dân tộc : Kinh - Quốc tịch : Việt Nam
* Xuất gia ngày 31/03/1960, tại Tịnh xá Ngọc An, phường 2, thị xã Tân An, tỉnh Long An
* Thọ giới Sa di ngày rằm 6/1960 tại Tịnh xá Ngọc Nguyên, thị trấn Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
* Thọ giới Tỳ kheo ngày rằm 7/1963 tại Tịnh xá Ngọc Giang, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
* Được tấn phong Giáo phẩm Thượng Tọa ngày 23/11/1997 tại Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ IV.
* Tấn phong Giáo phẩm Hòa Thượng ngày 14/12/2007 tại Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ VI.
* Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Công, sinh năm 1916, mất năm 1947.
* Thân mẫu là cụ bà Võ Thị Nhiễu, sinh năm 1915, mất năm 1996.
* Bổn sư: Đức Trưởng Lão Giác Chánh ( Nhị Tổ hệ phái Khất Sĩ)
* Y chỉ sư: Hòa thượng Giác Huệ ( Nguyên trưởng Giáo đoàn VI)
* Hiện nay Hòa Thượng là một vị Giáo Phẩm đang giữ nhiều chức vụ quan trọng ở trong Hệ phái Khất Sĩ cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
* CMND số: 330028892, cấp ngày 26/05/2003, tại tỉnh Vĩnh Long
* Hộ khẩu thường trú : Tịnh xá Ngọc Viên - 14/20/2, xóm Chài, phường 2, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
* Dân tộc : Kinh - Quốc tịch : Việt Nam
* Xuất gia ngày 31/03/1960, tại Tịnh xá Ngọc An, phường 2, thị xã Tân An, tỉnh Long An
* Thọ giới Sa di ngày rằm 6/1960 tại Tịnh xá Ngọc Nguyên, thị trấn Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
* Thọ giới Tỳ kheo ngày rằm 7/1963 tại Tịnh xá Ngọc Giang, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
* Được tấn phong Giáo phẩm Thượng Tọa ngày 23/11/1997 tại Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ IV.
* Tấn phong Giáo phẩm Hòa Thượng ngày 14/12/2007 tại Đại hội Phật giáo toàn quốc kỳ VI.
* Thân phụ là cụ ông Nguyễn Văn Công, sinh năm 1916, mất năm 1947.
* Thân mẫu là cụ bà Võ Thị Nhiễu, sinh năm 1915, mất năm 1996.
* Bổn sư: Đức Trưởng Lão Giác Chánh ( Nhị Tổ hệ phái Khất Sĩ)
* Y chỉ sư: Hòa thượng Giác Huệ ( Nguyên trưởng Giáo đoàn VI)
* Hiện nay Hòa Thượng là một vị Giáo Phẩm đang giữ nhiều chức vụ quan trọng ở trong Hệ phái Khất Sĩ cũng như Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Ủy viên thường trực HĐTS Trung ương GHPGVN
- Phó ban tăng sự trung ương GHPGVN
- Phó ban hướng dẫn Phật tử trung ương GHPGVN
- Trưởng ban thường trực giáo phẩm hệ phái khất sĩ
- Phó ban trị sự kiêm trưởng ban hướng dẫn Phật tử tỉnh Vĩnh Long
- Trụ trì Tổ đình Tịnh xá Ngọc Viên, tp Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
- Phó ban tăng sự trung ương GHPGVN
- Phó ban hướng dẫn Phật tử trung ương GHPGVN
- Trưởng ban thường trực giáo phẩm hệ phái khất sĩ
- Phó ban trị sự kiêm trưởng ban hướng dẫn Phật tử tỉnh Vĩnh Long
- Trụ trì Tổ đình Tịnh xá Ngọc Viên, tp Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

