Thứ Tư, 15 tháng 2, 2012

TIỂU LUẬN TIẾNG VIỆT THỰC HÀNH (MINH GIẢI)

Lời cam đoan
           Tôi xin cam đoan bài nghiên cứu khoa học này do chính tôi làm. Trong quá trình làm bài chúng tôi không có sao chép bất cứ tài liệu nào nếu có gì xảy ra chúng tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm.
                                                                                             Tác giả

                                                                                   TRÌNH MINH THỌ
                                                                                   THÍCH MINH GIẢI
                                       Bảng viết tắt xuất xứ tư liệu
Tp. HCM :       Thành phố Hồ Chí Minh
NC           :        Nghiên cứu
TVTH      :       Tiếng Việt thực hành
TV           :       Tiếng Việt
VN           :       Việt Nam
TL            :       Tiểu luận
NXB        :        Nhà xuất bản
TĐP         :        Từ địa phương
VD           :        Ví dụ
TP            :        Tác phẩm
Danh mục các bảng biểu và đồ thị
                                                                                                                            Trang
1. Bảng biểu:
Bảng biểu 1So sánh nghĩa từ địa phương........................................................... 9
Bảng biểu 2: Khảo sát từ địa phương trong truyện ngắn và truyện vừa.............. 13
Bảng biểu 3: Biểu hiện từ địa phương các vùng ở Việt Nam.............................. 14
Bảng biểu 4: Khảo sát từ địa phương ở 100 người tại Huyện Gò Công Đông.. 15
Bảng biểu 5: Từ địa phương Nam Bộ và Bắc Bộ................................................. 15
Bảng biểu 6: Khảo sát từ lớp từ khẩu ngữ trên 100 người.................................. 16

2. Biểu đồ:
Biểu đồ 1: Đồ thị khảo sát từ địa phương trong 25 truyện ngắn và  truyện vừa 13
Biểu đồ 2:  Đồ thị thể hiện số từ địa phương thu thập xuất hiện ở tỉ lệ %........ 13
Biểu đồ 3: Đồ thị khảo sát trên 100 người sử dụng  từ địa phương................... 15
Biểu đồ 4: Đồ thị khảo sát lớp từ khẩu ngữ trên tờ báo Công an....................... 16
                                           Mở đầu
0.1-          Lý do chọn đề tài và mục đích nghiên cứu:
0.1.1-   Lý do chọn đề tài:
        TV là công cụ học tập, giao tiếp ở VN và thế giới. Vấn đề dùng từ trong tiếng Việt này đã được NC về lý thuyết và đưa vào ứng dụng, trong thực tế có kết quả tốt. Tuy nhiên, từ thực tế đó, nhất là khi áp dụng khảo sát ở thực tế vấn đề từ địa phương và khẩu ngữ ở thực tế cho thấy còn cần phải tiếp tục hoàn thiện ở mặt cách dùng từ trong TV. Vì lý do đó, chúng tôi chọn đề tài tìm hiểu từ địa phương và khẩu ngữ trong TV để nghiên cứu và ứng dụng từ địa phương và khẩu ngữ ở Nam Bộ.
0.1.2- Mục đích nghiên cứu:
        Đề tài NC một vài vấn đề về từ địa phương và khẩu ngữ trong TV, nhằm đạt một mục đích cụ thể từ trong TV và ứng dụng từ ngữ và khẩu ngữ ở Nam Bộ.
0.2- Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
0.2.1- Do vấn đề dùng từ trong TV là vấn đề cơ bản trong chuyên ngành TVTH, nên từ những năm qua đã được nghiên cứu và đã có nhiều ý kiến của các nhà khoa học về vấn đề này. Chẳng hạn, ý kiến của tác giả Nguyễn Đức Dân.
0.2.2- Phân loại ý kiến: 2 loại ý kiến: Nhóm ý kiến và tác giả đồng tình với quan điểm của người viết đề tài TL, nhóm ý kiến không đồng tình. Tóm tắt vài ý kiến và tác giả tiêu biểu từ những sách đã NC.
0.3- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
0.3.1- Đối tượng nghiên cứu: Ở đây tác giả nghiên cứu một đối tượng là từ địa phương và khẩu ngữ trong TV.
0.3.2- Phạm vi NC: Ở đây tác giả xác định phạm vi NC là phần khảo sát từ địa phương và khẩu ngữ ở Nam Bộ.
0.4- Phương pháp NC và nguồn tài liệu:
0.4.1- Phương pháp NC: Gồm 2 phần: Xác định phương pháp NC khoa học chung và phương pháp NC khoa học ngành cần áp dụng để NC đề tài.
0.4.2- Nguồn tài liệu:
0.4.2.1- Bình diện đồng đại: Xác định đây là nguồn tài liệu chính, nên đề tài NC vấn đề đồng đại. Gồm 2 nguồn: Tài liệu chính thống: là nguồn tài liệu chính, gồm các giáo trình, các tài liệu tham khảo chuyên ngành trong chương trình học và có ở các thư viện Quốc gia, thư viện trường…tài liệu tự thu thập: Báo chí các loại, các trang web, các sách báo của các tác giả trong và ngoài nước, tài liệu điền dã thuộc đồng đại (hiện tại).
0.4.2.2- Bình diện lịch đại: Gồm các tài liệu chính thống và tự thu thập thuộc lịch đại (trước đây) cần thiết cho đề tài.
0.5- Những đóng góp của tiểu luận:
0.5.1- Về măt lý luận: Như đã xác định ở phần lý do chọn đề tài, mục đích NC, đề tài đang NC còn nhiều thiếu sót về lý luận, việc NC thành công đề tài này sẽ đóng góp vào vấn đề dùng từ trong TV.
0.5.2- Về mặt thực tiễn: Từ thành công về mặt lý luận, đề tài sẽ có đóng góp vào ứng dụng vấn đề dùng từ trong TV nhất là ở bậc đại học.
0.6- Bố cục tiểu luận:
Mở đầu (Dẫn nhập, giới thiệu, tổng quan…)
Chương 1: Tìm hiểu từ địa phương và khẩu ngữ trong TV:
Chương 2: Khảo sát từ địa phương và khẩu ngữ ở Nam Bộ:
Kết kuận:

 Chương 1: Tìm hiểu từ địa phương và khẩu ngữ:

1. Từ địa phương:
1.1- Từ địa phương là những từ thuộc một phương ngữ (tiếng địa phương) nào đó của ngôn ngữ dân tộc và chỉ phổ biến trong phạm vi lãnh thổ địa phương đó. Như vậy, khái niệm từ địa phương trước hết nhằm vào những khác biệt về mặt từ vựng chứ không phải là những khác biệt về mặt ngữ âm. Sự khác biệt chẳng hạn như: lắt lẻo – lắc lẻo, gập ghềnh – gập ghình,... không phải là mục tiêu chú ý của từ vựng.
 1.2- Có những con đường khác nhau đã dẫn tới sự hình thành những kiểu phương ngữ khác nhau:
 1.2.1- Do sự vật được gọi tên chỉ có ở một vài địa phương nhất định nên tên gọi của chúng trở thành từ địa phương. Loại này, trong từ vựng chung của toàn dân tộc không có từ tương ứng với chúng.
Ví dụ: nhút, lớ, (quả) tắt, chẻo... (phương ngữ Trung Bộ), sầu riêng, măng cụt, chôm chôm, tràm, trâm bầu, chao,... (phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ Việt Nam).
 1.2.2- Có những từ cùng gọi tên một sự vật, hiện tượng với từ trong từ vựng chung, nhưng hai từ khác nhau hoàn toàn về mặt ngữ âm. Ví dụ: ngái – xa, nỏ – không, rào – sông, rú – núi, mô – đâu, tê – kia, rứa – thế, chộ – thấy, trốc – đầu, nhủ – bảo, xán – đập/ném,... (phương ngữ Trung Bộ); má – mẹ, điệp – phượng, mè – vừng, muỗng – thìa, lượm – nhặt, mắc cỡ – xấu hổ,... (phương ngữ Nam Trung Bộ và Nam Bộ).
1.2.3- Nhiều từ vốn là dạng cổ của từ tương ứng trong từ vựng chung hiện nay. Dạng cổ đó được bảo toàn trong một địa phương, còn dạng mới, dạng hậu kì của chúng thì đi vào từ vựng chung. Kết cục là hai dạng chỉ khác nhau ở một bộ phận ngữ âm nào đó mà thôi. Ví dụ: gấy – gái, chí – chấy, nác – nước, kha – gà, khót – gọt, cúi – gối, ví – với,..
1.2.4- Kiểu từ địa phương thứ tư là những từ đồng âm với từ trong từ vựng chung. Có hai khả năng có thể dẫn tới tình hình này: Một là chúng quan hệ đồng âm thuần tuý, ngẫu nhiên, hai là do trước đây, chúng vốn chỉ là một từ, nhưng một địa phương nào đó đã chuyển đổi đối tượng gọi tên của từ đi, theo những chiều hướng khác nhau; hoặc ngược lại, từ trong từ vựng chung đã chuyển đổi đi như thế. Chúng ta có thể so sánh những ví dụ sau đây:
Từ
Nghĩa chung
Nghĩa trong phương ngữ Nam Bộ
ốm
có bệnh
gầy
hòm
vật hình hộp để đựng đồ đạc
săng, quan tài
thằn lằn
thằn lằn
thạch sùng
kiềng
bếp kiềng
rế
Bảng biểu 1: So sánh từ địa phương.
1.3- Các biến dạng địa phương của ngôn ngữ về mặt này hay mặt khác, hiện đang tồn tại như một tất yếu. Điều đó, một mặt nói lên rằng ngôn ngữ thống nhất của dân tộc vẫn tồn tại và thể hiện trong tính đa dạng của nó; mặt khác, lại nói lên rằng sự tồn tại các tiếng địa phương là kết quả của những diễn biến lịch sử xã hội rất khác nhau. 2.- Lớp từ khẩu ngữ:
2.1- Về mặt cấu trúc hình thức, các từ ngữ thuộc lớp này khi đi vào hoạt động giao tiếp, ít nhiều có thể “tự do, phóng túng” nếu điều kiện cho phép. Nói cách khác, chúng có nhiều khả năng biến đổi cấu trúc vốn có của mình.
Ví dụ:
Tách rời ra và chen thêm những yếu tố khác vào:
học hành – học với hành, học với chả hành
chồng con – chồng với con
Tăng cường các dạng láy hoặc lặp lại từ:
ông – ông ông ênh ênh
đàn ông – đàn ông đàn ang
con gái – con gái con đứa
 2.2- Ưa dùng những từ ngữ có sắc thái đánh giá cực đại theo chiều nào đó để cường điệu sự đánh giá của người nói, lôi cuốn sự chú ý của người nghe. Ví dụ: lo thắt ruột, chờ đỏ mắt, đánh sặc tiết, chạy bở hơi tai, chẻ xác ra, no đòn, cứng họng, (tức) sôi máu, (giận) tím mặt,...
 2.3- Chấp nhận những lối xưng hô thân mật hoặc đậm màu sắc bày tỏ thái độ. Bên cạnh đó là những từ ngữ có sắc thái thông tục, thậm chí thô thiển. Chẳng hạn, về xưng hô, có thể dùng: mày, tao, cậu, tớ, mình, chúng mình, bọn mình, y, hắn, hắn ta, bọn nó, tụi nó, thằng, thằng cha, con mẹ, mụ, con mụ, mụ ta,... Về những từ đánh giá hoặc miêu tả hành vi, có: ngu, tồi, mèng, chẳng ra chó gì, chẳng nước mẹ gì, ăn thua gì, ăn thua mẹ gì, nước non gì, ăn vàng ăn bạc gì, biết tay, phải lòng, cực, cực kì, nghiêm, gìn,...
2.4- Rất ưa dùng các quán ngữ, thành ngữ để đưa đẩy, rào đón, hoặc diễn đạt cho sinh động.
Ví dụ: của đáng tội, có đời thuở nhà ai, thôi thì..., thì đã đành là vậy, nó chết một nỗi (một cái) là..., đánh đùng một cái, ấm ớ hội tề, chầu rìa hút thuốc vặt, tuần chay nào cũng có nước mắt, ai biết quan đái mà hạ võng, luỵ như luỵ đò,...
Thậm chí, đôi khi để tỏ thái độ thân thương, quý mến của các bậc cha chú, ông bà,... đối với trẻ em, người ta còn dùng cả những lời “mắng yêu” nghe chừng rất thông tục như: thằng chó con, con cún con, cha bố (cô, cậu),...
2.5- Sắc thái khẩu ngữ và biểu cảm của lớp từ khẩu ngữ còn thể hiện rõ ở sự hiện diện và hoạt động của những từ thưa gửi (dạ, thưa,...), các từ ngữ cảm thán (ôi, ối, ôi trời, trời ơi, trời đất ơi, cha mẹ ơi,...), ở các ngữ khía từ (à, ư, nhỉ, nhé)...
Mặt khác, việc dùng các từ ngữ với sắc thái nghĩa mới, hoặc kèm theo những nghĩa ngữ cảnh, nghĩa lâm thời,... khá phổ biến. Bởi lẽ giản dị là: Khẩu ngữ ít nhiều “phóng túng” về mặt chuẩn tắc.
Tuy vậy, dầu thế nào đi nữa thì cũng phải khẳng định lại rằng tính thông tục của khẩu ngữ nói chung và từ vựng khẩu ngữ nói riêng, không phải là sự nói tục và các từ tục. Nếu không thấy sự khác biệt về bản chất này, lạm dụng các từ tục thì sẽ dẫn đến chỗ làm vẩn đục ngôn ngữ, phá mất cái gọi là thẩm mĩ ngôn ngữ, thậm chí vi phạm đạo đức trong giao tiếp.
Tóm lại từ địa phương và khẩu ngữ được xem như nơi bảo tồn được những chứng tích xa xưa của ngôn ngữ dân tộc. Trong nhiều khía cạnh khảo sát, xử lí đối với từ địa phương, việc tìm tòi những tàn dư cổ còn sót lại trong đó, là điều rất có giá trị và đáng chú ý. Và để cho làm rõ vấn đề này tác giả xin được trình bày phần ứng dụng.
Chương 2: Khảo sát từ địa phương và khẩu ngữ ở Nam Bộ:
1-Khảo sát về từ địa phương:
1.1- Tư liệu chúng tôi khảo sát sử dụng ở đây là các tác phẩm văn học đã được xuất bản trong giai đoạn 1945–1975 viết về đề tài miền Nam do một số tác giả miền Nam viết. Mỗi từ thống kê một lần, không tính đến số lần chúng được lặp lại (đối với cả các tác giả và tác phẩm khác nhau). Rất có thể các TĐP được thống kê ở đây cũng sẽ gặp trong một số TP của các tác giả ở các vùng khác nhau. Để có cách nhìn khách quan, chúng tôi đã đối chiếu những từ thu thập được với "Từ điển đối chiếu TĐP" (Nxb Giáo Dục, 1999) do Nguyễn Như Ý chủ biên để xem TĐP đó có phải là từ miền Nam hay không (vì đây là quyển từ điển duy nhất chú rõ vùng). Khi chọn tư liệu, chúng tôi tập trung chủ yếu khảo sát mảng văn xuôi (truyện ngắn và truyện vừa) với hi vọng có thể khảo sát được ở nhiều đề tài của các tác giả khác nhau.
         Qua tìm hiểu và NC:  khảo sát 25 truyện ngắn, 1 truyện vừa (xem phần trích dẫn tư liệu) với tổng số là 2302 trang, chúng tôi thu thập được 403 TĐP miền Nam. Tuy nhiên, nếu số trang tư liệu thống kê càng nhiều thì tỉ lệ TĐP thu thập được so với số trang sẽ giảm xuống vì có nhiều TĐP được lặp lại.  Trong số 403 TĐP được thu thập, có 56 từ chỉ các hoạt động của chiến tranh mới được dùng trong giai đoạn này. VD: chống càn, ruồng bố, càn, bưng biền,... 49 từ không có từ tương đương trong tiếng phổ thông, chỉ các đồ vật và sản vật ở miền Nam. VD: trâm bầu, bình bát, xuồng ba lá, tam bản, khăn rằn, phảng, chùm ruột, lục bình,... 87 từ là biến thể ngữ âm. VD: chánh trị, bữa hổm, gởi, tánh mạng, sanh, tợ, suôi gia, nói trổng, ngưng, thâu, ngoải, nhểu,... 221 từ là các biến thể từ vựng khác. Ví dụ: dưa leo, hớt tóc, đổ thừa, ớt hiểm, nước miếng, sình, rầy, trái cây, chết xỉu, nói dóc, ở trần,... Hầu hết những TĐP này đều được thu thập trong "Từ điển đối chiếu tiếng địa phương" và có tần số xuất hiện tương đối nhiều (thường không dưới 3 lần). Chúng không chỉ xuất hiện trong lời đối thoại của các nhân vật mà còn xuất hiện nhiều trong lời dẫn truyện của tác giả và rất tự nhiên, khiến người đọc không có cảm giác bị tắc nghẽn khi gặp những cách nói mang tính địa phương.   


Số từ thu thập (từ)
Tỉ lệ (%)
(a)
Tổng số từ địa phương thu thập (a)
403
100
(b)
Từ chỉ các hoạt động động của chiến tranh mới được dùng trong giai đoạn này (b)
56
12
(c)
Từ không có từ tương đương trong tiếng phổ thông, chỉ các đồ vật và sản vật ở miền Nam (c)
49
10
(d)
Từ là biến thể ngữ âm (d)
87
18
(e)
Từ là các biến thể từ vựng khác (e)
221
60
Bảng biểu 2: Khảo sát từ địa phương trong truyện ngắn và truyện vừa
Đơn vị: từ
Biểu đồ 1: Đồ thị khảo sát từ địa phương trong 25 truyện ngắn và  truyện vừa
Biểu đồ 2: Đồ thị thể hiện số từ địa phương thu thập xuất hiện ở tỉ lệ %
 1.2- Từ địa phương có sự đối lập về ngữ âm: là những từ ngữ địa phương chỉ cùng khái niệm với từ toàn dân những có ngữ âm khác.
Từ toàn dân
Hải Hưng
Thanh Hóa
Nghệ Tĩnh
Nam Bộ


cá tràu
cá lóc
cua
rốc
dạm
dam

dứa


gai
thơm
lợn
ỉn


heo
cây xoan

cây đu

tâu
tru
tru


nác
nác


cấu
gấu

1.3- Qua khảo sát Miền Tây Nam Bộ người dân sử dụng từ địa phương:
            Bắc con cá gô bỏ dô gổ nó kiu gột gột.
           (Bắt con cá rô bỏ vô rổ nó kêu rột rột.)
 Bắt con cá lóc nướng trui
            Làm mâm rượu trắng đãi người bạn xa.
Qua những câu trên nhận thấy từ địa phương sử dụng có tính biểu cảm mang đậm bản chất của con người địa phương.
           Và các từ địa phương sau được khảo sát trên 100 người tại Huyện Gò Công Đông (tỉnh Tiền Giang):
Các từ địa phương khảo sát trên 100 người
Nghĩa của từ khảo sát
Số lượng khảo sát (người)
Từa lưa, tùm lum
Không ra gì
60
Sắp nhỏ
Lũ trẻ, mấy đứa con trong nhà
80
Ba gai
Làm quấy, kiếm chuyện
70
Quởn
Rảnh
50
Mình ênh
Một mình
20
Bảng biểu 4: Khảo sát từ địa phương ở 100 người tại Huyện Gò Công Đông.
Đơn vị: người
Biểu đồ 3: Đồ thị khảo sát trên 100 người sử dụng  từ địa phương.
Và ngoài ra còn có các từ địa phương ở Nam Bộ so với ở Bắc Bộ như:
Nam Bộ
 Kì
Trái
Chén, tô
Kiếng
Đắc
Bắc Bộ
Lạ
Quả
Bát
Kính
Mắc
Bảng biểu 5: Từ địa phương Nam Bộ và Bắc Bộ.
2- Khảo sát về phần khẩu ngữ:
Trường hợp từ ngữ có sắc thái đánh giá cực đại theo chiều nào đó để cường điệu sự đánh giá của người nói, lôi cuốn sự chú ý của người nghe. Ví dụ: lo thắt ruột, chạy bở hơi tai, chẻ xác ra, cứng họng, (tức) sôi máu, (giận) tím mặt,...
Khảo sát trên 1 tờ báo công an nhận thấy một số từ khẩu ngữ có sắc thá cực đại được sử dụng như: no đòn, đánh sặc tiết, chờ đỏ mắt.
Khảo sát trên 100 câu gồm có các từ ( no đòn, đánh sặc tiết, chờ đỏ mặt)
Số lần từ xuất hiện (lần)
Tỉ lệ %
No đòn
20
15
Đánh sặc tiết
25
35
Chờ đỏ mặt
40
50
Bảng biểu 6: Khảo sát từ lớp từ khẩu ngữ trên 100 người
                                                                            Đơn vị : lần
Biểu đồ 4: Đồ thị khảo sát lớp từ khẩu ngữ trên tờ báo Công an.
Qua phần ứng dụng thực tế nay giúp người đọc cũng như tác giả hiểu thực tế hơn về từ địa phương và khẩu ngữ trong tiếng Việt. Và để cho vấn đề tìm hiểu này hoàn hảo hơn tác giả sẽ có những nhận định và kiến nghị như sau.
KẾT LUẬN:
          Qua kết quả NC nhận thấy ngôn ngữ khu vực nhưng được sử dụng rộng rãi với hơn 1/3 dân số cả nước, tiếng miền Nam (phương ngữ Nam Bộ là hạt nhân) được xem là một phương ngữ lớn - nơi có sự phát triển kinh tế năng động, văn hoá phong phú, một "phương ngữ mạnh" và có vai trò đặc biệt đối với tiếng Việt
          Đặc điểm của hai cuộc kháng chiến ở miền Nam những năm 1945–1975 đã tạo cho phương ngữ Nam có điều kiện trở nên gần gũi với đồng bào cả nước và có một số lượng khá lớn các từ và khái niệm mới chỉ các hoạt động chiến tranh. Đây là cơ sở để một mảng từ địa phương xuất hiện và nhanh chóng thâm nhập vào ngôn ngữ toàn dân, bổ sung và làm phong phú thêm cho vốn từ tiếng Việt.
            Mặc dù còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhưng qua tư liệu một số tác phẩm văn học có đối chiếu với từ điển, chúng tôi đã phần nào thấy được sự thâm nhập của từ địa phương miền Nam vào ngôn ngữ toàn dân qua một giai đoạn có nhiều biến động của hoàn cảnh xã hội cũng như của ngôn ngữ. Đồng thời, qua đó chúng tôi cũng thấy được vị thế của từ địa phương trong mối quan hệ với ngôn ngữ toàn dân: Luôn vận động và mở rộng phạm vi để thâm nhập vào vốn từ toàn dân. Điều đó phản ánh đúng xu thế phát triển của ngôn ngữ nói chung và của phương ngữ nói riêng.
Cần có những đề nghị về việc vận dụng từ địa phương ở các trường phổ thông nhằm để duy trì và bảo tồn tiếng Việt. Ngày nay có một số thầy cô không cho học sinh dùng từ địa phương như vậy sẽ làm mất đi sự phát triển của tiếng Việt vì thế cần có sự chú ý và quan tâm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I.         Tiếng Việt:

1.                 Hà Thúc Hoan, Tiếng Việt thực hành, Nxb GD, Hà Nội, 1996.
2.                 Nguyễn Đức Dân, Tiếng Việt (dùng cho đại học đại cương), Nxb GD, Hà Nội.
3.                 Đỗ Hữu Châu, Từ vựng, ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội, 1986.
4.                 Nguyễn Đức Dân, Cơ sở dẫn luận ngôn ngữ học, ĐHTH TPHCM, 1995.
5.                 Hồ Lê, Dẫn luận ngôn ngữ học, Đại học Mở- Bán công TPHCM, 1995.
6.                 Bùi Tất Tươm (chủ biên), Giáo trình tiếng Việt, Nxb GD, 1994.
7.                 Nguyễn Tài Cẩn, Ngữ pháp tiếng Việt. Nxb ĐH và THCN, Hà Nội, H, 1975
8.                 Bùi Tất Tươm (chủ biên), Giáo trình tiếng Việt, Nxb GD, 1994.

II.        Tiếng Anh:
1.       Mác- ăngghen- Lênin, Bàn về ngôn ngữ, Nxb, Hà Nội, 1962.
2.       V.B. Kaevich, Những yếu tố cơ sở của ngôn ngữ học đại cương (Bản dịch tiếng việt), ĐHTH Hà Nôi,1982.
3.       F. de. Sausure, Giáo trình ngôn ngữ học đại cương, Nxb KHXH, Hà Nội, 1973.
(Chương I- V, II, IV, V, VI).
Phụ lục
   
            Hình 1: Hình ảnh học tiếng Việt Tăng Ni sinh

Hình 2:  Người dân Miền Tây Nam Bộ sử dụng từ địa phương
Phụ lục
Những câu thơ dân ca Miền Tây Nam Bộ:

Cần Thơ gạo trắng nước trong
Ai về xứ bạc thong dong cuộc đời.
- Muốn ăn bông súng cá kho
Thì vô Đồng Tháp ăn cho đã thèm
-Bạc Liêu nước chảy lờ đờ
Dưới sông cá chốt trên bờ Triều Châu.

Gió đưa gió đẩy về rẫy ăn còng
Về sông ăn cá về đồng ăn cua
Bắt cua làm mắm cho chua
Gởi về quê nội khỏi mua tốn tiền”

-“Tháp Mười nước mặn, đồng chua         
  Nửa mùa nắng cháy nửa mùa nước dâng”

 -U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.
-Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.
 -U Minh, Rạch Giá thị quá sơn trường
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp đua.
-Cà Mau khỉ khọt trên bưng
Dưới sông sấu lội trên rừng cọp um.

PHIM PHỤ ĐỀ TIẾNG ANH

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh (1921-2011)


(03/07/2011 07:52 PM) 
Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Chúng tôi bàng hoàng và xúc động nhận được tin một bậc Tiền bối vừa bỏ chúng tôi ở lại với thế giới Ta-bà này.
Kính phục một học giả uyên bác,  tiếc thương một chúng sinh tràn đầy từ bi, chúng tôi những chúng sinh còn vướng mắc trong thế giới này
xin chân thành chắp tay hồi hướng công đức nhỏ nhoi mà chúng tôi nghĩ rằng đã gom góp được để đưa tiễn một vị Thầy vừa bước lên bờ bên kia của Giác ngộ.
Hoang Phong Nguyễn Đức Tiến,
Tâm Diệu
và Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen

Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh (1921-2011)

Chúng tôi nhận được tin Bác Phạm Kim Khánh vừa từ trần vào ngày 27 tháng 2, 2011, tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, hưởng thọ 91 tuổi. Xin chép lại đây bản tiểu sử của Bác.  
Nguyện cầu Bác đạt được đạo quả giác ngộ giải thoát.

  *
  Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh sanh ngày 10 tháng 1 năm 1921 tại Bến Tre, trong một gia đình vọng tộc lâu đời ở Bà Rịa. Ông Nội là Hương cả, văn hay chữ đẹp. Thân phụ ông là Đốc phủ sứ Phạm Kim Chi, thân mẫu là cụ bà Lâm Thị Tỵ. Cư sĩ Phạm Kim Khánh là người con thứ 7 trong gia đình có 5 trai 3 gái. Cư sĩ mồ côi mẹ khi ông mới được 4 tuổi. Ở tuổi 45 đầy quyền thế nhưng không tục huyền, cụ ông dành trọn thì giờ rảnh rang lo giáo huấn con cái rất nghiêm, và tham gia các công việc bảo tồn văn hóa học thuật nước nhà. Khi tùng sự tại Hà Tịnh, cụ ông có duyên được người cháu ba đời của văn hào Nguyễn Du là tiến sĩ Nguyễn Mai tặng cho bản sao quyển Kim Túy Tình Từ. Cụ dày công nghiên cứu, phiên chú và xuất bản năm 1917 (về sau, được Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa tái bản năm 1972 tại Sài Gòn).
 
Cư sĩ Phạm Kim Khánh từng học qua các trường tiểu học ở Mỏ Cày, trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, và trường Providence ở Huế, tới cấp bậc Tú tài. Ông tinh thông không những Pháp văn mà cả Anh văn và có nhiều hiểu biết về những danh từ Pàli. Cái học của ông là cái học của hàng học giả, tự nghiên cứu, tìm tòi, bồi đấp lấy, thâm hậu và vững vàng. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng Thiên chúa giáo, ông cũng biết đến đạo Phật qua tạp chí Niết Bàn của hội Thông Thiên Học và tạp chí Từ Bi Âm của hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, do cụ thân sinh mua dài hạn cho đọc.

Vào thời thanh niên, trong những năm 1948-1955, ông làm Trưởng phòng Phim-ảnh (ciné-photo) tại Cao Ủy Phủ Xứ Cam Bốt (Haut Commissariat du Cambodge). Nhờ thế ông có nhiều dịp -- gần như hằng đêm -- cho chuyên viên đem xe phát điện và chiếu bóng đến các sân chùa, chiếu phim cho công chúng xem. Ông từng gặp và có cảm tình với chư Tăng Nam tông vì các ngài hiền lành; nhưng vì còn có nhiều định kiến về tinh thần phục vụ xã hội nên lúc ban đầu, ông không thích Phật giáo. Ông thường thắc mắc tại sao các vị sư không sản xuất mà lại đi khất thực, chỉ có tiêu thụ mà không thấy sản xuất, đóng góp cho xã hội.

Về sau, ông mới biết rằng Phật giáo gồm bốn hạng gọi là tứ chúng. Hàng xuất gia gồm tỳ khưu và tỳ khưu ni, và hàng cư sĩ là thiện nam và tín nữ. Hàng cư sĩ có phận sự cung cấp phần vật chất cho hàng xuất gia. Ngược lại, hàng xuất gia cung cấp về phần tinh thần đến hàng tại gia cư sĩ. Ông chưa có duyên đi vào đạo mặc dầu nhạc phụ (Đốc phủ sứ Lê Thành Long, từng là phó Hội trưởng Hội Thông Thiên Học) từng giảng đạo Phật cho ông nghe, như về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, v.v. Ông chỉ vâng vâng dạ dạ cho vui lòng nhạc phụ, chứ không chú ý lắm.
Năm 1959, cư sĩ được nhạc phụ cho biết thị xã Bà Rịa sẽ có tổ chức tiếp đón Đại đức Nàrada Mahà Thera từ Tích Lan sang hoằng pháp. Sau đó, cả gia đình bên vợ đều quy y với Ngài Nàrada, ngoại trừ cư sĩ. Tuy nhiên, về sau, khi nghe trọn 12 thời pháp tại chùa Kỳ Viên, Quận 3, Sài Gòn, ông hiểu được và thấm thía, nên tháng 9 năm đó, cư sĩ Phạm Kim Khánh xin quy y Tam Bảo và được Ngài Nàrada ban pháp danh là Sunanda (Thiện Duyên).

Từ khi quy y Tam Bảo, cư sĩ dành trọn thì giờ học hỏi giáo lý, có khi bỏ cả giờ ăn trưa, nghĩ trưa, để đến chùa Kỳ Viên tham vấn Ngài Nàrada. Khoảng đời bận rộn nhất là những năm dài làm chủ biên cùng lúc cho chín tờ đặc san tại Sài Gòn, như Thế Giới Tự Do, Hương Quê, v.v. nhưng ông vẫn nỗ lực kiên trì sáng tác và dịch thuật nhiều tác phẩm Phật giáo nổi tiếng.


Nổi tiếng nhất có lẽ là quyển "Đức Phật và Phật Pháp" (The Buddha and His Teachings, nguyên tác Anh ngữ của Ngài Nàrada), được xuất bản tại Sài Gòn bằng hai thứ tiếng Anh và Việt. Bản Việt ngữ do cư sĩ Phạm Kim Khánh chuyển dịch, với 4.000 quyển đầu tiên được in ra vào năm 1970, và sau đó một năm, được tái bản thêm 4.000 quyển. Từ đó đến nay, quyển này đã được in lại rất nhiều lần, trong nước cũng như tại hải ngoại, và được xem như là một trong những tài liệu căn bản quan trọng trong các khóa Phật học. Năm 1998, cư sĩ đã hiệu đính lại bản dịch đó, dựa theo ấn bản Anh ngữ cuối cùng của Đại đức Nàrada, trước khi Ngài viên tịch.

Cư sĩ Phạm Kim Khánh là người có công lớn trong ban xây dựng và quản trị Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu với nhiệm vụ Tổng Thơ Ký Ban Quản Trị. Ông cũng là Tổng Thơ Ký Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam cho đến năm 1975.
Từ khi sang định cư tại Hoa Kỳ, ông tiếp tục các công tác hoằng pháp, đóng góp nhiều Phật sự. Ông là một trong 12 vị cư sĩ đầu tiên đứng ra thành lập chùa Cổ Lâm tại Seattle, Hoa Kỳ. Đặc biệt nhất, ông thành lập Trung Tâm Nàrada vào tháng 9 năm 1987, để ấn tống và phát hành băng và sách Phật giáo. Trung tâm hoạt động đều đặn, tháng trước cuộn băng, tháng sau quyển sách, cho đến tháng 9 năm 1997 thì ngưng vì bà phối ngẫu, cộng tác viên trung thành của ông, trở bệnh nặng.

Tuy tuổi đời chồng chất, trông ông không hề mỏi mệt với sở nguyện hộ trì và hoằng dương chánh pháp. Tánh hài hước u mặc nhạy bén vẫn cứ như xưa. Mỗi tháng ông tổ chức họp mặt các đạo hữu để cùng nhau hành thiền, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi giáo pháp. Mỗi ngày, ngoài giờ hành thiền, ông vẫn đều đặn dịch thuật và trước tác. Ông có nguyện vọng thực hiện một cuốn sách với nhiều hình ảnh về Phật Giáo Miến Điện, tương tự như cuốn Hành Hương Xứ Phật.

Được hỏi về tương lai Phật Giáo cho người Việt Nam hải ngoại, ông mong mỏi được thấy hai phần -- vật chất như chùa chiền, và tinh thần như giáo pháp -- phải được quân bình. Giới trẻ chịu ảnh hưởng tân học hầu như thích nghe giáo pháp, muốn biết Đức Phật là ai và Đức Phật dạy những gì, hơn là chỉ tụng kinh tu phước như những người có tuổi. Phật Pháp rất thích hợp với khoa học nên ông mong rằng người Phật tử cần được nghe giáo pháp nhiều hơn nữa. Ở các nước Tây Phương, phần lớn người theo Phật giáo là hạng trí thức; họ tìm hiểu và chỉ chấp nhận khi đã hiểu. Trong Phật giáo không có đức tin mù quáng. Người Phật tử không bị bắt buộc phải tin điều gì nếu mình không hiểu như thế.

Sau đây là những gì ông đã thực hiện được:

A. Sáng Tác

1. Đóng góp phần lớn hình ảnh cho hai quyển: a) Indochine Profonde -- Illustrations photographiques. J.P. Dannaud, do Cao ủy Phủ Đông Dương xuất bản năm 1954; và b) Cambodge. J.P. Dannaud, Société Asiatique d'Éditions, Saigon, 1959.
2. Phật Giáo, Một Sự Nghiệp Tinh Thần Của Người Việt Nam. Phỏng viết theo một thời Pháp của Ngài Nàrada, 1961
3. Tứ Diệu Đế. Phỏng viết theo những thời Pháp của Ngài Nàrada, 1964.
4. Thánh Tích Thích Ca Phật Đài. 1972
5. Ba Pháp Tu Học Của Người Cư Sĩ. 1987
6. Lịch Sử Truyền Bá Phật Giáo Nguyên Thủy Tại Việt Nam (viết chung với Bác Sĩ Nguyễn Tối Thiện). 1990
7. Nàrada Mahà Thera. 1992
8. Tam Quy Ngũ Giới. 1992
9. Con Đường Cũ Xa Xưa. 1993
10. Ba Đặc Tướng Của Đời Sống (viết trong thập niên 1990)
11. Ngụ Ngôn Và Tích Chuyện Trong Phật Giáo. 1996
12. Hành Hương Xứ Phật. 1997
13. Nhiều bài nghị luận đăng trong Tạp chí Đường Sáng, Chùa Cổ Lâm, Hoa Kỳ, và những bài viết ngắn rải rác đó đây.
B. Dịch Thuật

1. Hạnh Phúc Gia Đình. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. In lần thứ nhất tại Việt Nam, 1962. Tái bản nhiều lần tại Việt Nam, Pháp và Hoa kỳ.
2. Sống Trong Hiện Tại. Tác giả: Ananda Pereira. 1963. In lần thứ nhất tại Việt Nam và tái bản tại Hoa Kỳ.
3. Phần Giản Dị Trong Phật Giáo. Tác giả: Kassapa Thera. 1964. Tái bản tại Hoa Kỳ (1992).
4. Lý Nhân Quả. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1965.
5. Thoát Đến Thực Tế. Tác giả: Ananda Pereira. 1967. Tái bản tại Hoa Kỳ (1991).
6. Suy Niệm Về Hiện Tượng Chết. Tác giả: V.F. Gunaratna. In tại Việt Nam (trong thập niên 1960). Tái bản tại Hoa Kỳ (1997).
7. Nhẹ Gánh Lo Âu. Tác giả: Sri Dhammananda. 1968. Tái bản nhiều lần tại Hoa Kỳ.
8. Phật Giáo Vấn Đáp. Tác giả: Francis Story. 1969.
9. Đức Phật Và Phật Pháp. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. In tại Việt Nam, 1970. Tái bản nhiều lần tại Việt Nam, Pháp, và Hoa Kỳ.
10. Kinh Pháp Cú. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1971. Tái bản tại Hoa Kỳ.
11. Vòng Luân Hồi. Tác giả: Tỳ Khưu Khantipalo, 1971. Tái bản tại Hoa Kỳ (1994).
12. Thập Nhị Nhân Duyên. Tác giả: Piyadassi Mahà Thera. 1972.
13. Một Buổi Thuyết Trình Về Tứ Diệu Đế. Tác Giả: V.F. Gunaratna. 1973
14. Thực Hành Thiền Định. Tác giả: Phra Acharn Plien Panyapatipo. 1991
15. Giác Minh. Tác giả: Ngài Acharn Chah. 1992.
16. Hương Vị Giải Thoát. Tác giả: Ngài Acharn Chah (dịch trong đầu thập niên 1990).
17. Tự Quán Chiếu. Tác giả: Tan Achahn Kor Khao Suan Luan. 1992
18. Tiếng Vọng Từ Chân Tâm. Tác giả: Acharn Mahà Boowa.1992
19. Bài Học Nhân Một Đám Táng. Tác giả: Phra Acharn Mahà Boowa. 1994
20. Khéo Vấn Khéo Đáp. Tác Giả: Đ.Đ. Shavasti Dhammika. 1994
21. Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện. Tác giả: Piyadassi Mahà Thera. 1995
22. Niệm Và Người Hành Thiền. Tác giả: Thiền Sư U. Pandita. 1995
23. Lợi ích Của Thiền Tập. Tác giả: Thiền Sư Acharn Tong. 1996
24. Bảy Giai Đoạn Thanh Lọc Và Tuệ Minh Sát. Tác giả: Matari Sri Nànàràma Mahà Thera. 1996
25. Thiền Minh Sát. Tác giả: Mahasi Sayadaw. 1997
26. Vi Diệu Pháp Toát Yếu. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1999
27. Chín Yếu Tố Chánh Giúp Tăng Cường Ngũ Căn Của người Hành Thiền Minh Sát. Tác giả: U. Kundala Sayadaw. 1999
28. Bốn Điều Không Thể Ngăn Ngừa. Tác giả: U. Kundala Sayadaw. 2000
29. Đời Sống Quả Thật Bấp Bênh, Vô Định - Cái Chết Sẽ Đến, Chắc Như Thế. Tác giả: Sri Dhammananda. 2001
29. Kinh Vô Ngã Tướng. Tác giả: Mahasi Sayadaw. 2001
30. Ca Khúc Hoan Hỷ Giải Thoát Ra Khỏi Ngũ Uẩn. Tác giả: Acharn Mun Bhuridatto. 2001
31. Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo. Tác giả: Ledi Sayadaw. 2002
C. Băng ghi âm

1. Nguyên bộ lớn như: Đức Phật và Phật Pháp, Giác Minh, Hương Vị Giải Thoát, Tam Quy Ngũ Giới, Tự Quán Chiếu.
2. Khoảng 50 bộ nhỏ.
Bình Anson ghi chép,
Perth, Western Australia
Tháng 2-2003 (hiệu đính tháng 2-2011)

GS Trịnh Xuân Thuận: "Cái nhìn của Phật giáo giúp khoa học đến gần hơn với chân lý"


GS Trịnh Xuân Thuận, người được coi là bậc thầy của ngành vật lý học thiên thể với hơn 120 công trình đăng trên các tạp chí khoa học và kỷ yếu các hội nghị khoa học, vừa về thăm đất nước lần thứ tư sau bảy năm xa cách. Sáng 6.12 tại Hà Nội, giáo sư đã có buổi gặp mặt các nhà khoa học vật lý trong nước tại viện Vật lý, mở đầu chuỗi sự kiện của giáo sư tại Việt Nam.
GS.Trịnh Xuân Thuận
Những cuốn sách khoa học của ông không chỉ được xếp hạng bán chạy nhất mà còn góp phần làm lan toả tình yêu khoa học trong độc giả trẻ. Đây có thể hiểu là cách ông quan tâm đến việc đầu tư cho khoa học cơ bản và phổ biến kiến thức tại Việt Nam?
Tất nhiên rồi, sẽ đến lúc khoa học cơ bản mở rộng ở Việt Nam. Tôi đến viện Vật lý cũng như tham dự các buổi diễn thuyết trong nước sắp tới cũng vì mục đích này. Người Việt Nam không kém chất xám nhưng chúng ta chưa có phương tiện nên chưa đạt đến mức như các nước.
Khoa học cơ bản rất cần thiết với một nước muốn ngang hàng nước khác. Nhưng vì đầu tư cho khoa học cơ bản chưa nhìn thấy lợi ích ngay, nên nhiều khi chúng ta chưa chú tâm.
Ông có thể cho biết, cách phổ biến khoa học hiện nay của chúng ta đang mắc những lỗi gì? Việc đầu tư cho khoa học đã hợp lý chưa?
Có một thực tế là hiện nay giáo sư chỉ làm khảo cứu trong phòng thí nghiệm mà không ra ngoài đời phổ biến khoa học nhiều cho lắm. Ở châu Mỹ hay châu Âu cũng vậy, nhà khoa học chỉ được thăng chức tăng lương khi họ “kiếm ra” cái gì đó, còn việc phổ biến kiến thức nhiều khi không được thưởng. Họ sẽ bảo anh chỉ làm phổ biến mà không khảo cứu. Đó cũng là mâu thuẫn.
Tôi cho rằng, lúc trẻ mình có nhiều sức khoẻ và trí lực nhất thì nên tập trung cho công tác khảo cứu. Đến tuổi 40, 45 nên dành thời gian để phổ biến những gì mà mình đã học hỏi được để chia sẻ tới mọi người.
Cuộc sống mưu sinh nhiều áp lực, người ta thường tìm đến những ngành dễ kiếm thu nhập hơn là nghiên cứu khoa học. Theo ông đâu là cách để nuôi dưỡng, khơi gợi tình yêu khoa học trong những người trẻ?
Thế nên tôi mới viết sách. Tôi mong diễn thuyết hay viết sách sẽ giúp độc giả thay đổi cách nhìn đời. Nhưng dù sao ngay từ đầu anh phải có đam mê, nếu không có đam mê thì rất khó. Như tôi lúc đầu cũng phải hy sinh rất nhiều thứ, xa nhà, xa bố mẹ để chăm chú vào đường mình đi. Mình chỉ có một đời, nên không thể làm nhiều thứ, nên để làm một thứ đến nơi đến chốn phải biết hy sinh.
Bên cạnh đó, theo tôi, nghề giáo và những người làm giáo dục cần có trách nhiệm truyền đạt tới giới trẻ tình yêu khoa học. Cũng như nhà khoa học, công việc đầu tiên là học hỏi, thứ nhì là khảo cứu – tạo ra cái mới, thứ ba là viết sách để chia sẻ đam mê của mình với mọi người.
Không chỉ riêng cuốn Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao, mà trong tất cả các tác phẩm của mình, giáo sư luôn chú ý sử dụng một ngôn ngữ đơn giản và văn phong hấp dẫn được đa số độc giả. Dường như, đó là một lựa chọn và một tư duy khác biệt so với các đồng nghiệp?
Nhiều đồng nghiệp của tôi chỉ chú tâm viết dưới dạng khảo cứu, cho một đối tượng thu hẹp là các nhà chuyên môn. Nhưng tôi thì muốn viết cho quần chúng, chứ không chỉ cho giới khoa học. Tôi luôn nghĩ, khi mình đã hiểu cặn kẽ một vấn đề nào đó thì nên tìm cách chia sẻ với độc giả, những người ham thích khám phá bầu trời và vũ trụ, nhưng lại không phải là các nhà khoa học. Nếu ngôn từ khô khan thì làm sao lôi cuốn được độc giả, mà đó chắc chắn không phải là mong muốn của tôi. Bao giờ khi viết sách, tôi cũng đặt ra hai tiêu chí: một là kiến thức khoa học, hai là giá trị thưởng thức.
Tuy nhiên, với một nhà khoa học chỉ quen làm việc với kính thiên văn, để có thể vận dụng văn chương làm cầu nối giữa khoa học và độc giả, hẳn không dễ dàng?
Nếu xác định mục tiêu của mình chỉ có khoa học đơn thuần, đúng là công việc nhàn hơn. Nhưng cũng may, tôi viết lách không đến nỗi tệ, vì văn chương là một sở thích khác của tôi. Tuy thế, cuốn sách đầu tiên – Giai điệu bí ẩn, đúng là một thử thách, nó khiến tôi mất nhiều công sức. Nhưng tới giờ, khi đã hoàn thành được hơn mười tác phẩm, tích luỹ được kha khá kinh nghiệm, mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn, và tâm lý cũng thoải mái hơn nhiều rồi.
Không chỉ nghiên cứu vật lý thiên văn, ông còn nghiên cứu về Phật giáo. Tinh thần, triết lý Phật giáo đã hỗ trợ ông thế nào trong nghiên cứu khoa học?
Phật giáo có nói đến sự vô thường, cái gì cũng thay đổi. Đó cũng là đề tài của khoa học thế kỷ 20. Trước kia, người ta tưởng vũ trụ là bất biến, theo quan điểm của Aristotle. Nhưng sau này, khoa học đã chứng minh, vũ trụ thay đổi. Và trong vũ trụ, mọi vật đều thay đổi. Mỗi một thứ đều được sinh ra, sống cuộc đời của nó rồi chết đi. Thứ hai, Đức Phật cũng nói rằng, mọi sự vật trên thế gian đều hiện hữu dưới hình thức các mối quan hệ. Đó là hai ví dụ cho thấy điểm tương đồng trong cách nhìn của Đức Phật và khoa học. Trong nhiều trường hợp, cái nhìn của Phật giáo giúp khoa học đến gần hơn với chân lý.
Trong thời gian một tiếng rưỡi tại viện Vật lý, giáo sư Thuận đã dành nửa tiếng trình bày về những khảo cứu trong cuộc đời làm khoa học của mình, thời gian còn lại, giáo sư trả lời những câu hỏi về các vấn đề thiên văn như siêu hạt, thiên hà lùn, ánh sáng… Dù cuộc gặp mặt chỉ dành cho giới khoa học, rất nhiều bạn trẻ, người yêu sách của ông cũng đến mua sách và xin chữ ký của “thần tượng”.
Dự kiến ngày 8.12, giáo sư sẽ có buổi làm việc với các nhà khoa học thuộc liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và đại học FPT.
Triết lý nào của đạo Phật làm nhà khoa học trong ông tâm đắc nhất?
Tôi thích nhất câu vạn vật đều nằm trong một mối liên hệ với nhau. Đó là mối liên hệ giữa loài người, với các sự sống trên trái đất. Liên hệ đó là sợi dây, tạo ra cách hành xử khi đối diện với mọi người. Đừng bao giờ nghĩ mọi thứ không thay đổi. Hạnh phúc không phải do mình tạo nên, mà hạnh phúc sẽ đến khi mình đem hạnh phúc đến cho người khác.
Ngoài thiên văn học, Phật giáo, ông còn nghiên cứu nhiều vấn đề như môi trường, xã hội. Đâu là điều ông trăn trở nhất hiện nay?
Tôi thấy mình xây dựng nhiều quá. Nước mình phong cảnh rất đẹp, đa dạng sinh học rất tốt, nhưng phát triển phải đi kèm với tôn trọng môi trường. Tôi được biết, con tê giác một sừng cuối cùng ở nước mình vừa chết; tôi đi Hạ Long thấy vịnh nhiều khách sạn quá, nước vịnh rất ô nhiễm. Đây là những thứ quý giá mà thiên nhiên ban tặng, nếu ta làm hỏng sẽ không thể lấy lại được.
Đã bao năm tìm kiếm nhưng các nhà khoa học chưa phát hiện ra hành tinh nào đặc biệt và có sự sống như trái đất, nên mình phải giữ gìn và bảo vệ trái đất bằng mọi giá. Thay vì đi khai thác các vệ tinh khác, hãy bảo vệ và lo cho trái đất, vì con cháu của chúng ta trước.
Cảm ơn ông!
Thanh Tuyền - Hương Lan (Nguồn: SGTT)

HT.Thích Giác Toàn nói chuyện với doanh nhân

GNO - Chiều thứ Bảy, 4-2-2012, HT.Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã có buổi pháp thoại thân mật đầu năm với doanh nhân tại Hội trường Mandala, 110 Sương Nguyệt Ánh, quận 1, TP.HCM.
IMG_0176.jpg
HT.Thích Giác Toàn gặp gỡ doanh nhân đầu năm trong chương trình "Chất lượng cuộc sống"
Gần 100 doanh nhân cùng thân nhân đã đến nghe Pháp. Pháp thoại này nằm trong chương trình “Chất lượng cuộc sống” do Nhà hàng chay Mandala phối hợp với Mani Media thực hiện định kỳ bắt đầu vào lúc 13g30 ngày thứ Bảy cách tuần.
IMG_0181.jpg
Nhiều doanh nhân và người thân đã đến dự
HT.Thích Giác Toàn đã căn cứ kinh “Điển Tôn” thuộc Trường A-hàm, đọc lại lời kinh và giảng giải nghĩa lý thâm diệu và thiết thực, gợi ý phản chiếu tâm thức vi tế của con người thời đại, đặc biệt là doanh nhân, để từ đó giúp mỗi người nhận diện bản thân, sống trí tuệ, hạnh phúc, thong dong hơn giữa bộn bề cuộc sống mưu sinh, làm ăn, ràng buộc gia đình, trách nhiệm xã hội… “Mỗi lần có dịp gặp gỡ quý vị, nhà sư sẽ chọn một bản kinh của Đức Phật để chúng ta cùng đọc, cùng tìm hiểu thông điệp mà Đức Phật đã dạy không gì khác hơn là hướng cuộc sống của mỗi chúng ta ngày càng cao hơn, hiền đẹp hơn. Đó là một trong những cách để nâng cao chất lượng cuộc sống - như chương trình đã đặt ra” - Hòa thượng chia sẻ.
IMG_0014 (38).jpg
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Tập đoàn Tôn Hoa Sen chúc Tết Hoà thượng và chia sẻ đầu năm
Hòa thượng cũng đã có bài thơ “Ngũ phúc xuân thiêng” - lời chúc xuân theo tinh thần nhà Phật đến với mọi người trong niềm hoan hỷ đầu xuân.
Được biết, đây là kỳ thứ 10 của chương trình “Chất lượng cuộc sống”. Sau mỗi buổi nói chuyện sẽ ghi hình, tặng đến người tham dự thường xuyên. Đĩa video cũng được phát hành tại cửa hàng Phật Ngọc, chi nhánh cùng địa chỉ trên.
IMG_0165.jpg
Chương trình Chất lượng cuộc sống tổ chức vào thứ Bảy cách tuần
Nguyên Đạt

TÔN GIẢI CA DIẾP VÀ ĐẠI KIẾT TẬP KINH ĐIỂN

TT. Thích Nhật Từ cảm tác bài thơ “Dâng Mẹ”

Mẹ được ví là một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng. Mẹ, là mãi mãi cho đi không đòi lại bao giờ Thân mẫu của TT. Thích Nhật Từ cũng vậy, suốt một đời tần tảo, hy sinh, lo lắng cho chồng, nuôi dạy con nên người hữu dụng. Tám mươi mốt năm hiện hữu giữa cõi đời, bà đã dành 2/3 cuộc sống của mình để lo cho những đứa con nên hình nên vóc.
Trong những năm đầu xuất gia học Phật, TT. Thích Nhật Từ đã gặp không ít những khó khăn, vấp ngã, bệnh tật, biết bao lần muốn ngã gục giữa bảo tố phong ba. Những tháng năm du học xa nhà trong nỗi phập phồng trăn trở,... nhưng rồi thầy vẫn đừng dậy, hiên ngang bước qua bao khăn khó giữa cuộc đời, để trở thành bậc hiền tài của đạo pháp, quê hương, ấy là nhờ đâu? Phần lớn chính nhờ trái tim thương yêu bao la của mẹ. Những lời cổ vũ, động viên, sách tấn, cảm thông, chia sẻ từ trái tim của mẹ. Hơn bao giờ hết những lúc gặp khó khăn, mẹ luôn là người đầu tiên hiện hữu để thầy vững tin hơn trên con đường mình đã chọn.
Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng
Hoa trong vườn không gió cũng xôn xao
Chỉ còn một đêm nay nữa thôi, ngày mai thầy sẽ tiễn mẹ về với Phật. Sự mất mát ấy với thầy là quá lớn. Bởi mẹ là người thầy thương yêu nhất, kính trọng nhất,... bài thơ này thầy đã cảm tác tại tang lễ của mẹ. Với câu chữ mộc mạc đơn sơ, nhưng là tất cả tấm chân tình thầy kính dâng về mẹ, là sự tri ân, tiếc nhớ, kính thương. Nó mộc mạc đơn sơ như chính cuộc đời của mẹ, như chính cả sự hy sinh thầm lặng lớn lao, như chính những công hạnh thầy làm được xin tặng về cho mẹ.
Xin trích dẫn bài thơ:
Mẹ tôi không biết sang giàu
Sớm chiều gian khó đêm thâu một mình
Vì chồng, con phải hy sinh
Cần cù quen tánh, lặng thinh quen đời
Lời ru mẹ hát tuyệt vời
Dù cho trọn kiếp con người chẳng quên
Thích Nhật Từ Kính mẹ!

DIỆU ÂM HOẰNG PHÁP 2

DIỆU ÂM HOẰNG PHÁP 1

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Việt Trinh một diễn viên theo đạo Phật

                      
                                                                     

NHẪN NHƯNG KHÔNG NHỤC-HT GIÁC TOÀN


PHIM HOẠT HÌNH TRUYỀN THUYẾT VỀ PHẬT THÍCH CA


        
                   
                      

PHIM ÁNH ĐẠO VÀNG


 

                                                                                    

PHỎNG VẤN CHÚ TIỂU THÍCH CHÂN TÂM



                              
                                                                                                                     
                                         

 




                               
                                                                         

PHIM KHẨU ĐẦU THIỀN


                                                                                     


PHIM HOẠT HÌNH GIAN NAN TÌM MẸ



 

Lợi ích của trà xanh

Chống ung thư
Năm 1993, bác sĩ Chung S. Yang, Đại học Rutters ở New Jersy, Hoa Kỳ cho hay laf trà với chất polyphenols có khả năng ngăn chặn sự hình thành và tăng trưởng của tế bào ung thư. Kết quả nghiên cứu tại Viện ung thư British Columbia, Canada cho hay tannin của trà có thể ngăn chặn sự hình thành  của hóa chất gây ung thư nitrosamin.
Tháng 12 năm 2005, nhóm nghiên cứu tại viện Karolinska, Thụy Điển cho biết phụ nữ uống một li trà mỗi ngày có thể giảm nguy cơ ung thư buồng trứng tới 50%. Đó là do tác dụng của các chất polyphenols trong trà.
Giảm nguy cơ bệnh tim mạch
Tháng 9 năm 2002, Jóeph Judd, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng Beltsville, tiểu bang Maryland cho biết: uống nước trà liên tục trong 3 tuần lễ có thể làm giảm cholesterol LDL tới 10%.
Các đệ tử của trà, dù là trà đen hay trà xanh, trà nóng hay trà đá, đều ít bị chết trong vòng 3-4 năm sau khi bị cơn đau tim so với những người thích dùng các đồ uống khác. Kết luận này được các nhà khoa học Mỹ đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 1.900 bệnh nhân ở độ tuổi 60 bị một cơn đau tim. Họ được theo dõi trong vòng 4 năm, bắt đầu khoảng 4 ngày sau tai biến nói trên và được chia làm 3 nhóm: Nhóm 1: không uống trà. Nhóm 2: uống trà vừa phải ( dưới 14 tách/ tuần trong vòng 1 năm trước khi bị cơn đau tim). Nhóm 3: uống nhiều ( hơn 14 tách/ tuần). Thống kê cho thấy, bệnh nhân thuộc nhóm 2 thường dùng 2 tách trà / tuần, còn những người thuộc nhóm 3 thường dùng 19 tách trà / tuần. Sau gần 4 năm, 313 người tham gia nghiên cứu đã chết (chủ yếu là vì bệnh tim mạch). Các nhà nghiên cứu nhận thấy, bệnh nhân càng uống nhiều trà thì nguy cơ tử vong trong 4 năm sau khi bị đau tim càng thấp: nguy cơ bị đau tim giảm 28% ở nhóm uống trà vừa phải và 44% ở nhóm uống trà nhiều.
Giải độc
Trong Đông y, trà được dùnhg trỏng một số trường hợp nhiễm độc kiềm và thảo dược. Những người làm việc nhiều với tia phóng xạ vẫn xem thói quen uống trà hằng ngày là giải pháp tự bảo vệ mình trước các tia bức xạ độc hại. Các nhà khoa học cho biết: hoạt chất axit tanic trong trà còn có tác dụng thu giữ, làm lắng đọng các gốc kim loại tự do, có thể dùng cho những người bị nhiễm độc kim loại nặng, kể cả thủy ngân. Tình trạng nhiễm độc CO2 ở các lò than hay ngộ độc rượu cũng có thể giảm bớt nhờ uống trà đặc. Ngoài ra, chất tanin trong trà  còn có tác dụng làm se niêm mạc ruột, rất hiệu quả trong các trường hợp tiêu chảy cấp. Theo kinh nghiệm dân gian, có thể đùng nước chè tươi đậm đặc hoặc chè tươi giã nát đắp vào các vết hăm, lở loét, viêm tấy hay các vết nứt da do lạnh để giúp vết thương mau lành. Còn để chữa bầm dập do chấn thương, có thể trộn búp chè tươi với dấm để đắp.
Trợ tiêu hóa
Là một dược tính được công nhận của trà, nhất là các loại đồ ăn nhiều chất béo hay chất thịt. Vì thế, vào các quán ẩm thực luôn luôn có trà uống kèm theo. Lý do là các đồ ăn này đều có nhiều dầu mỡ (và vì thế khiến nhiều người khen ngon).
Bảo vệ răng
Khả năng này là do tács dụng của chất fluor trong trà.Đây là một lợi điểm cho những người tiêu thụ nước không có đủ chất fluor, như nước giếng… Tại nhiều quốc gia, nước cung cấp cho dân chúng được cho thêm fluor và nhờ đó, tỉ lệ hư răng giảm xuống rất nhiều. Kết quả nghiên cứu tại ĐH Nha khoa Illinois cho hay: chất tanins trong trà cũng có khả năng diệt các vi khuẩn gây viêm nướu răng. Nhật Bản có sản xuất loại kem đánh răng có chứa chất tanins.
Chắc xương
Các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Cheng Kung(Đài Loan) đã tiến hành nghiên cứu trên hơn 1.000 nam và nữ tuổi 30 và  lớn hơn. Một nửa trong số này có thói quen uống trà thường xuyên trong vòng ít nhất 1 năm. Phần lớn  đều dùng trà xanh hay trà ô long không pha thêm sữa. Kết quả cho thấy, mật độ xương hông tăng 6,2% ở những người dùng trà đều đặn trong hơn 10 năm và tăng 2,3% ở  những người dùng trà trong hơn 5 năm so với những người không dùng đồ uống này. Tuy nhiên, không có  sự khác biệt đáng kể giữa những người uống trà 1-5 năm so với những người không uống trà. Theo các nhà nghiên cứu, tác dụng củng cố xương của trà có được là nhờ 2 thành phần fluor và flavonoid. Gãy xương do loãng xương và giảm nồng độ xương đang trở thành vấn đề toàn cầu do số lượng người già ngày càng tăng. Một số tính toán cho rằng gần 1/2 dân số Mỹ tuổi từ 50 trở lên bị  chứng bệnh này.
Trà xanh làm giảm tác hại của thuốc lá
Một nghiên cứu của  Đại học Arizona (Mỹ) cho thấy, thói quen uống trà  xanh thường xuyên có thể giúp giảm các nguy cơ  bệnh tật mà việc hút thuốc lá mang lại. Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm trên 140 người hút thuốc lá. Những người này được chia làm 3 nhóm: uống nước, uống trà đen và uống trà xanh với liều lượng 5 ly mỗi ngày. Kết quả xét nghiệm nước tiểu sau 4 tháng cho thấy, mức 8-OHdG – một chất tàn phá tế bào, dẫn đến ung thư hoặc các bệnh hiểm nghèo khác – ở nhóm uống trà xanh thấp hơn 25% so với nhóm kia.
Kéo dài tuổi thọ  con người
Các nhà khoa học  ở trường Đại học Tohoku (Nhật) vừa công bố  một công thức sống thọ độc đáo : chỉ cần uống đều đặn 5 tách trà xanh /ngày ! Công thức lý thú  trên dựa vào kết quả một công trình nghiên cứu kéo dài suốt 11 năm của tiến sĩ Shinichi và các cộng sự  trên 40.000 người tình nguyện cả hai giới ,trong độ tuổi từ 40-79 ở miền đông bắc nước Nhật ( khu vực có đến 80% dân số có thói quen uống trà xanh). Sự kỳ diệu của tuổi thọ ở những người thường xuyên uống trà xanh là do tác dụng của hợp chất polyphenol – được biết đến như một chất chống oxy hóa có hiệu quả - tìm thấy trong trà xanh, có tác dụng tích cực trong việc kéo dài tuổi thọ của con người.  Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Y khoa của Mỹ và được giới khoa học đặc biệt quan tâm
Trà làm đẹp cơ thể
Tăng trí nhớ
Tháng 2 năm 2004, nhóm nghiên cứu tại Đại học Newcastle, Anh Quốc công bố rằng uống trà đều đặn mỗi ngày có thể làm tăng trí nhớ. Các nhà khoa học đang nghiên cứu xem liệi các hóa chất trỏng trà có tác dụng tốt nào cho bệnh nhân bị sa sút trí tuệ như bệnh Alzheimer.
Tỉnh ngủ, tinh thần sảng khoái
Theo PGS TS Trương Văn Tuấn, giảng viên trường ĐH Y Dược TP.HCM: “Theanine là hợp chất đóng vai trò xúc tác trong quá trình trao đổi chất, đồng thời là tác nhân giúp các hoạt động của não được cải thiện một cách đáng kể và nâng cao khả năng tập trung trong suốt thời gian 5 tiếng sau khi uống. Tinh thần thư giãn nhưng vẫn tỉnh táo, có cảm hứng sáng tạo, giúp tìm ra giải pháp mới”.
                                                                                    Sưu tầm