Thứ Ba, 14 tháng 2, 2012

Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh (1921-2011)


(03/07/2011 07:52 PM) 
Nam mô Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật
Chúng tôi bàng hoàng và xúc động nhận được tin một bậc Tiền bối vừa bỏ chúng tôi ở lại với thế giới Ta-bà này.
Kính phục một học giả uyên bác,  tiếc thương một chúng sinh tràn đầy từ bi, chúng tôi những chúng sinh còn vướng mắc trong thế giới này
xin chân thành chắp tay hồi hướng công đức nhỏ nhoi mà chúng tôi nghĩ rằng đã gom góp được để đưa tiễn một vị Thầy vừa bước lên bờ bên kia của Giác ngộ.
Hoang Phong Nguyễn Đức Tiến,
Tâm Diệu
và Ban Biên Tập Thư Viện Hoa Sen

Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh (1921-2011)

Chúng tôi nhận được tin Bác Phạm Kim Khánh vừa từ trần vào ngày 27 tháng 2, 2011, tại thành phố Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, hưởng thọ 91 tuổi. Xin chép lại đây bản tiểu sử của Bác.  
Nguyện cầu Bác đạt được đạo quả giác ngộ giải thoát.

  *
  Cư sĩ Sunanda Phạm Kim Khánh sanh ngày 10 tháng 1 năm 1921 tại Bến Tre, trong một gia đình vọng tộc lâu đời ở Bà Rịa. Ông Nội là Hương cả, văn hay chữ đẹp. Thân phụ ông là Đốc phủ sứ Phạm Kim Chi, thân mẫu là cụ bà Lâm Thị Tỵ. Cư sĩ Phạm Kim Khánh là người con thứ 7 trong gia đình có 5 trai 3 gái. Cư sĩ mồ côi mẹ khi ông mới được 4 tuổi. Ở tuổi 45 đầy quyền thế nhưng không tục huyền, cụ ông dành trọn thì giờ rảnh rang lo giáo huấn con cái rất nghiêm, và tham gia các công việc bảo tồn văn hóa học thuật nước nhà. Khi tùng sự tại Hà Tịnh, cụ ông có duyên được người cháu ba đời của văn hào Nguyễn Du là tiến sĩ Nguyễn Mai tặng cho bản sao quyển Kim Túy Tình Từ. Cụ dày công nghiên cứu, phiên chú và xuất bản năm 1917 (về sau, được Phủ Quốc Vụ Khanh Đặc Trách Văn Hóa tái bản năm 1972 tại Sài Gòn).
 
Cư sĩ Phạm Kim Khánh từng học qua các trường tiểu học ở Mỏ Cày, trung học Chasseloup Laubat ở Sài Gòn, và trường Providence ở Huế, tới cấp bậc Tú tài. Ông tinh thông không những Pháp văn mà cả Anh văn và có nhiều hiểu biết về những danh từ Pàli. Cái học của ông là cái học của hàng học giả, tự nghiên cứu, tìm tòi, bồi đấp lấy, thâm hậu và vững vàng. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng Thiên chúa giáo, ông cũng biết đến đạo Phật qua tạp chí Niết Bàn của hội Thông Thiên Học và tạp chí Từ Bi Âm của hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học, do cụ thân sinh mua dài hạn cho đọc.

Vào thời thanh niên, trong những năm 1948-1955, ông làm Trưởng phòng Phim-ảnh (ciné-photo) tại Cao Ủy Phủ Xứ Cam Bốt (Haut Commissariat du Cambodge). Nhờ thế ông có nhiều dịp -- gần như hằng đêm -- cho chuyên viên đem xe phát điện và chiếu bóng đến các sân chùa, chiếu phim cho công chúng xem. Ông từng gặp và có cảm tình với chư Tăng Nam tông vì các ngài hiền lành; nhưng vì còn có nhiều định kiến về tinh thần phục vụ xã hội nên lúc ban đầu, ông không thích Phật giáo. Ông thường thắc mắc tại sao các vị sư không sản xuất mà lại đi khất thực, chỉ có tiêu thụ mà không thấy sản xuất, đóng góp cho xã hội.

Về sau, ông mới biết rằng Phật giáo gồm bốn hạng gọi là tứ chúng. Hàng xuất gia gồm tỳ khưu và tỳ khưu ni, và hàng cư sĩ là thiện nam và tín nữ. Hàng cư sĩ có phận sự cung cấp phần vật chất cho hàng xuất gia. Ngược lại, hàng xuất gia cung cấp về phần tinh thần đến hàng tại gia cư sĩ. Ông chưa có duyên đi vào đạo mặc dầu nhạc phụ (Đốc phủ sứ Lê Thành Long, từng là phó Hội trưởng Hội Thông Thiên Học) từng giảng đạo Phật cho ông nghe, như về Tứ Diệu Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, v.v. Ông chỉ vâng vâng dạ dạ cho vui lòng nhạc phụ, chứ không chú ý lắm.
Năm 1959, cư sĩ được nhạc phụ cho biết thị xã Bà Rịa sẽ có tổ chức tiếp đón Đại đức Nàrada Mahà Thera từ Tích Lan sang hoằng pháp. Sau đó, cả gia đình bên vợ đều quy y với Ngài Nàrada, ngoại trừ cư sĩ. Tuy nhiên, về sau, khi nghe trọn 12 thời pháp tại chùa Kỳ Viên, Quận 3, Sài Gòn, ông hiểu được và thấm thía, nên tháng 9 năm đó, cư sĩ Phạm Kim Khánh xin quy y Tam Bảo và được Ngài Nàrada ban pháp danh là Sunanda (Thiện Duyên).

Từ khi quy y Tam Bảo, cư sĩ dành trọn thì giờ học hỏi giáo lý, có khi bỏ cả giờ ăn trưa, nghĩ trưa, để đến chùa Kỳ Viên tham vấn Ngài Nàrada. Khoảng đời bận rộn nhất là những năm dài làm chủ biên cùng lúc cho chín tờ đặc san tại Sài Gòn, như Thế Giới Tự Do, Hương Quê, v.v. nhưng ông vẫn nỗ lực kiên trì sáng tác và dịch thuật nhiều tác phẩm Phật giáo nổi tiếng.


Nổi tiếng nhất có lẽ là quyển "Đức Phật và Phật Pháp" (The Buddha and His Teachings, nguyên tác Anh ngữ của Ngài Nàrada), được xuất bản tại Sài Gòn bằng hai thứ tiếng Anh và Việt. Bản Việt ngữ do cư sĩ Phạm Kim Khánh chuyển dịch, với 4.000 quyển đầu tiên được in ra vào năm 1970, và sau đó một năm, được tái bản thêm 4.000 quyển. Từ đó đến nay, quyển này đã được in lại rất nhiều lần, trong nước cũng như tại hải ngoại, và được xem như là một trong những tài liệu căn bản quan trọng trong các khóa Phật học. Năm 1998, cư sĩ đã hiệu đính lại bản dịch đó, dựa theo ấn bản Anh ngữ cuối cùng của Đại đức Nàrada, trước khi Ngài viên tịch.

Cư sĩ Phạm Kim Khánh là người có công lớn trong ban xây dựng và quản trị Thích Ca Phật Đài ở Vũng Tàu với nhiệm vụ Tổng Thơ Ký Ban Quản Trị. Ông cũng là Tổng Thơ Ký Tổng Hội Phật Giáo Nguyên Thủy Việt Nam cho đến năm 1975.
Từ khi sang định cư tại Hoa Kỳ, ông tiếp tục các công tác hoằng pháp, đóng góp nhiều Phật sự. Ông là một trong 12 vị cư sĩ đầu tiên đứng ra thành lập chùa Cổ Lâm tại Seattle, Hoa Kỳ. Đặc biệt nhất, ông thành lập Trung Tâm Nàrada vào tháng 9 năm 1987, để ấn tống và phát hành băng và sách Phật giáo. Trung tâm hoạt động đều đặn, tháng trước cuộn băng, tháng sau quyển sách, cho đến tháng 9 năm 1997 thì ngưng vì bà phối ngẫu, cộng tác viên trung thành của ông, trở bệnh nặng.

Tuy tuổi đời chồng chất, trông ông không hề mỏi mệt với sở nguyện hộ trì và hoằng dương chánh pháp. Tánh hài hước u mặc nhạy bén vẫn cứ như xưa. Mỗi tháng ông tổ chức họp mặt các đạo hữu để cùng nhau hành thiền, trao đổi kinh nghiệm, học hỏi giáo pháp. Mỗi ngày, ngoài giờ hành thiền, ông vẫn đều đặn dịch thuật và trước tác. Ông có nguyện vọng thực hiện một cuốn sách với nhiều hình ảnh về Phật Giáo Miến Điện, tương tự như cuốn Hành Hương Xứ Phật.

Được hỏi về tương lai Phật Giáo cho người Việt Nam hải ngoại, ông mong mỏi được thấy hai phần -- vật chất như chùa chiền, và tinh thần như giáo pháp -- phải được quân bình. Giới trẻ chịu ảnh hưởng tân học hầu như thích nghe giáo pháp, muốn biết Đức Phật là ai và Đức Phật dạy những gì, hơn là chỉ tụng kinh tu phước như những người có tuổi. Phật Pháp rất thích hợp với khoa học nên ông mong rằng người Phật tử cần được nghe giáo pháp nhiều hơn nữa. Ở các nước Tây Phương, phần lớn người theo Phật giáo là hạng trí thức; họ tìm hiểu và chỉ chấp nhận khi đã hiểu. Trong Phật giáo không có đức tin mù quáng. Người Phật tử không bị bắt buộc phải tin điều gì nếu mình không hiểu như thế.

Sau đây là những gì ông đã thực hiện được:

A. Sáng Tác

1. Đóng góp phần lớn hình ảnh cho hai quyển: a) Indochine Profonde -- Illustrations photographiques. J.P. Dannaud, do Cao ủy Phủ Đông Dương xuất bản năm 1954; và b) Cambodge. J.P. Dannaud, Société Asiatique d'Éditions, Saigon, 1959.
2. Phật Giáo, Một Sự Nghiệp Tinh Thần Của Người Việt Nam. Phỏng viết theo một thời Pháp của Ngài Nàrada, 1961
3. Tứ Diệu Đế. Phỏng viết theo những thời Pháp của Ngài Nàrada, 1964.
4. Thánh Tích Thích Ca Phật Đài. 1972
5. Ba Pháp Tu Học Của Người Cư Sĩ. 1987
6. Lịch Sử Truyền Bá Phật Giáo Nguyên Thủy Tại Việt Nam (viết chung với Bác Sĩ Nguyễn Tối Thiện). 1990
7. Nàrada Mahà Thera. 1992
8. Tam Quy Ngũ Giới. 1992
9. Con Đường Cũ Xa Xưa. 1993
10. Ba Đặc Tướng Của Đời Sống (viết trong thập niên 1990)
11. Ngụ Ngôn Và Tích Chuyện Trong Phật Giáo. 1996
12. Hành Hương Xứ Phật. 1997
13. Nhiều bài nghị luận đăng trong Tạp chí Đường Sáng, Chùa Cổ Lâm, Hoa Kỳ, và những bài viết ngắn rải rác đó đây.
B. Dịch Thuật

1. Hạnh Phúc Gia Đình. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. In lần thứ nhất tại Việt Nam, 1962. Tái bản nhiều lần tại Việt Nam, Pháp và Hoa kỳ.
2. Sống Trong Hiện Tại. Tác giả: Ananda Pereira. 1963. In lần thứ nhất tại Việt Nam và tái bản tại Hoa Kỳ.
3. Phần Giản Dị Trong Phật Giáo. Tác giả: Kassapa Thera. 1964. Tái bản tại Hoa Kỳ (1992).
4. Lý Nhân Quả. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1965.
5. Thoát Đến Thực Tế. Tác giả: Ananda Pereira. 1967. Tái bản tại Hoa Kỳ (1991).
6. Suy Niệm Về Hiện Tượng Chết. Tác giả: V.F. Gunaratna. In tại Việt Nam (trong thập niên 1960). Tái bản tại Hoa Kỳ (1997).
7. Nhẹ Gánh Lo Âu. Tác giả: Sri Dhammananda. 1968. Tái bản nhiều lần tại Hoa Kỳ.
8. Phật Giáo Vấn Đáp. Tác giả: Francis Story. 1969.
9. Đức Phật Và Phật Pháp. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. In tại Việt Nam, 1970. Tái bản nhiều lần tại Việt Nam, Pháp, và Hoa Kỳ.
10. Kinh Pháp Cú. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1971. Tái bản tại Hoa Kỳ.
11. Vòng Luân Hồi. Tác giả: Tỳ Khưu Khantipalo, 1971. Tái bản tại Hoa Kỳ (1994).
12. Thập Nhị Nhân Duyên. Tác giả: Piyadassi Mahà Thera. 1972.
13. Một Buổi Thuyết Trình Về Tứ Diệu Đế. Tác Giả: V.F. Gunaratna. 1973
14. Thực Hành Thiền Định. Tác giả: Phra Acharn Plien Panyapatipo. 1991
15. Giác Minh. Tác giả: Ngài Acharn Chah. 1992.
16. Hương Vị Giải Thoát. Tác giả: Ngài Acharn Chah (dịch trong đầu thập niên 1990).
17. Tự Quán Chiếu. Tác giả: Tan Achahn Kor Khao Suan Luan. 1992
18. Tiếng Vọng Từ Chân Tâm. Tác giả: Acharn Mahà Boowa.1992
19. Bài Học Nhân Một Đám Táng. Tác giả: Phra Acharn Mahà Boowa. 1994
20. Khéo Vấn Khéo Đáp. Tác Giả: Đ.Đ. Shavasti Dhammika. 1994
21. Phật Giáo, Nhìn Toàn Diện. Tác giả: Piyadassi Mahà Thera. 1995
22. Niệm Và Người Hành Thiền. Tác giả: Thiền Sư U. Pandita. 1995
23. Lợi ích Của Thiền Tập. Tác giả: Thiền Sư Acharn Tong. 1996
24. Bảy Giai Đoạn Thanh Lọc Và Tuệ Minh Sát. Tác giả: Matari Sri Nànàràma Mahà Thera. 1996
25. Thiền Minh Sát. Tác giả: Mahasi Sayadaw. 1997
26. Vi Diệu Pháp Toát Yếu. Tác giả: Nàrada Mahà Thera. 1999
27. Chín Yếu Tố Chánh Giúp Tăng Cường Ngũ Căn Của người Hành Thiền Minh Sát. Tác giả: U. Kundala Sayadaw. 1999
28. Bốn Điều Không Thể Ngăn Ngừa. Tác giả: U. Kundala Sayadaw. 2000
29. Đời Sống Quả Thật Bấp Bênh, Vô Định - Cái Chết Sẽ Đến, Chắc Như Thế. Tác giả: Sri Dhammananda. 2001
29. Kinh Vô Ngã Tướng. Tác giả: Mahasi Sayadaw. 2001
30. Ca Khúc Hoan Hỷ Giải Thoát Ra Khỏi Ngũ Uẩn. Tác giả: Acharn Mun Bhuridatto. 2001
31. Ba mươi bảy Phẩm Trợ Đạo. Tác giả: Ledi Sayadaw. 2002
C. Băng ghi âm

1. Nguyên bộ lớn như: Đức Phật và Phật Pháp, Giác Minh, Hương Vị Giải Thoát, Tam Quy Ngũ Giới, Tự Quán Chiếu.
2. Khoảng 50 bộ nhỏ.
Bình Anson ghi chép,
Perth, Western Australia
Tháng 2-2003 (hiệu đính tháng 2-2011)

GS Trịnh Xuân Thuận: "Cái nhìn của Phật giáo giúp khoa học đến gần hơn với chân lý"


GS Trịnh Xuân Thuận, người được coi là bậc thầy của ngành vật lý học thiên thể với hơn 120 công trình đăng trên các tạp chí khoa học và kỷ yếu các hội nghị khoa học, vừa về thăm đất nước lần thứ tư sau bảy năm xa cách. Sáng 6.12 tại Hà Nội, giáo sư đã có buổi gặp mặt các nhà khoa học vật lý trong nước tại viện Vật lý, mở đầu chuỗi sự kiện của giáo sư tại Việt Nam.
GS.Trịnh Xuân Thuận
Những cuốn sách khoa học của ông không chỉ được xếp hạng bán chạy nhất mà còn góp phần làm lan toả tình yêu khoa học trong độc giả trẻ. Đây có thể hiểu là cách ông quan tâm đến việc đầu tư cho khoa học cơ bản và phổ biến kiến thức tại Việt Nam?
Tất nhiên rồi, sẽ đến lúc khoa học cơ bản mở rộng ở Việt Nam. Tôi đến viện Vật lý cũng như tham dự các buổi diễn thuyết trong nước sắp tới cũng vì mục đích này. Người Việt Nam không kém chất xám nhưng chúng ta chưa có phương tiện nên chưa đạt đến mức như các nước.
Khoa học cơ bản rất cần thiết với một nước muốn ngang hàng nước khác. Nhưng vì đầu tư cho khoa học cơ bản chưa nhìn thấy lợi ích ngay, nên nhiều khi chúng ta chưa chú tâm.
Ông có thể cho biết, cách phổ biến khoa học hiện nay của chúng ta đang mắc những lỗi gì? Việc đầu tư cho khoa học đã hợp lý chưa?
Có một thực tế là hiện nay giáo sư chỉ làm khảo cứu trong phòng thí nghiệm mà không ra ngoài đời phổ biến khoa học nhiều cho lắm. Ở châu Mỹ hay châu Âu cũng vậy, nhà khoa học chỉ được thăng chức tăng lương khi họ “kiếm ra” cái gì đó, còn việc phổ biến kiến thức nhiều khi không được thưởng. Họ sẽ bảo anh chỉ làm phổ biến mà không khảo cứu. Đó cũng là mâu thuẫn.
Tôi cho rằng, lúc trẻ mình có nhiều sức khoẻ và trí lực nhất thì nên tập trung cho công tác khảo cứu. Đến tuổi 40, 45 nên dành thời gian để phổ biến những gì mà mình đã học hỏi được để chia sẻ tới mọi người.
Cuộc sống mưu sinh nhiều áp lực, người ta thường tìm đến những ngành dễ kiếm thu nhập hơn là nghiên cứu khoa học. Theo ông đâu là cách để nuôi dưỡng, khơi gợi tình yêu khoa học trong những người trẻ?
Thế nên tôi mới viết sách. Tôi mong diễn thuyết hay viết sách sẽ giúp độc giả thay đổi cách nhìn đời. Nhưng dù sao ngay từ đầu anh phải có đam mê, nếu không có đam mê thì rất khó. Như tôi lúc đầu cũng phải hy sinh rất nhiều thứ, xa nhà, xa bố mẹ để chăm chú vào đường mình đi. Mình chỉ có một đời, nên không thể làm nhiều thứ, nên để làm một thứ đến nơi đến chốn phải biết hy sinh.
Bên cạnh đó, theo tôi, nghề giáo và những người làm giáo dục cần có trách nhiệm truyền đạt tới giới trẻ tình yêu khoa học. Cũng như nhà khoa học, công việc đầu tiên là học hỏi, thứ nhì là khảo cứu – tạo ra cái mới, thứ ba là viết sách để chia sẻ đam mê của mình với mọi người.
Không chỉ riêng cuốn Từ điển yêu thích bầu trời và các vì sao, mà trong tất cả các tác phẩm của mình, giáo sư luôn chú ý sử dụng một ngôn ngữ đơn giản và văn phong hấp dẫn được đa số độc giả. Dường như, đó là một lựa chọn và một tư duy khác biệt so với các đồng nghiệp?
Nhiều đồng nghiệp của tôi chỉ chú tâm viết dưới dạng khảo cứu, cho một đối tượng thu hẹp là các nhà chuyên môn. Nhưng tôi thì muốn viết cho quần chúng, chứ không chỉ cho giới khoa học. Tôi luôn nghĩ, khi mình đã hiểu cặn kẽ một vấn đề nào đó thì nên tìm cách chia sẻ với độc giả, những người ham thích khám phá bầu trời và vũ trụ, nhưng lại không phải là các nhà khoa học. Nếu ngôn từ khô khan thì làm sao lôi cuốn được độc giả, mà đó chắc chắn không phải là mong muốn của tôi. Bao giờ khi viết sách, tôi cũng đặt ra hai tiêu chí: một là kiến thức khoa học, hai là giá trị thưởng thức.
Tuy nhiên, với một nhà khoa học chỉ quen làm việc với kính thiên văn, để có thể vận dụng văn chương làm cầu nối giữa khoa học và độc giả, hẳn không dễ dàng?
Nếu xác định mục tiêu của mình chỉ có khoa học đơn thuần, đúng là công việc nhàn hơn. Nhưng cũng may, tôi viết lách không đến nỗi tệ, vì văn chương là một sở thích khác của tôi. Tuy thế, cuốn sách đầu tiên – Giai điệu bí ẩn, đúng là một thử thách, nó khiến tôi mất nhiều công sức. Nhưng tới giờ, khi đã hoàn thành được hơn mười tác phẩm, tích luỹ được kha khá kinh nghiệm, mọi chuyện trở nên dễ dàng hơn, và tâm lý cũng thoải mái hơn nhiều rồi.
Không chỉ nghiên cứu vật lý thiên văn, ông còn nghiên cứu về Phật giáo. Tinh thần, triết lý Phật giáo đã hỗ trợ ông thế nào trong nghiên cứu khoa học?
Phật giáo có nói đến sự vô thường, cái gì cũng thay đổi. Đó cũng là đề tài của khoa học thế kỷ 20. Trước kia, người ta tưởng vũ trụ là bất biến, theo quan điểm của Aristotle. Nhưng sau này, khoa học đã chứng minh, vũ trụ thay đổi. Và trong vũ trụ, mọi vật đều thay đổi. Mỗi một thứ đều được sinh ra, sống cuộc đời của nó rồi chết đi. Thứ hai, Đức Phật cũng nói rằng, mọi sự vật trên thế gian đều hiện hữu dưới hình thức các mối quan hệ. Đó là hai ví dụ cho thấy điểm tương đồng trong cách nhìn của Đức Phật và khoa học. Trong nhiều trường hợp, cái nhìn của Phật giáo giúp khoa học đến gần hơn với chân lý.
Trong thời gian một tiếng rưỡi tại viện Vật lý, giáo sư Thuận đã dành nửa tiếng trình bày về những khảo cứu trong cuộc đời làm khoa học của mình, thời gian còn lại, giáo sư trả lời những câu hỏi về các vấn đề thiên văn như siêu hạt, thiên hà lùn, ánh sáng… Dù cuộc gặp mặt chỉ dành cho giới khoa học, rất nhiều bạn trẻ, người yêu sách của ông cũng đến mua sách và xin chữ ký của “thần tượng”.
Dự kiến ngày 8.12, giáo sư sẽ có buổi làm việc với các nhà khoa học thuộc liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam và đại học FPT.
Triết lý nào của đạo Phật làm nhà khoa học trong ông tâm đắc nhất?
Tôi thích nhất câu vạn vật đều nằm trong một mối liên hệ với nhau. Đó là mối liên hệ giữa loài người, với các sự sống trên trái đất. Liên hệ đó là sợi dây, tạo ra cách hành xử khi đối diện với mọi người. Đừng bao giờ nghĩ mọi thứ không thay đổi. Hạnh phúc không phải do mình tạo nên, mà hạnh phúc sẽ đến khi mình đem hạnh phúc đến cho người khác.
Ngoài thiên văn học, Phật giáo, ông còn nghiên cứu nhiều vấn đề như môi trường, xã hội. Đâu là điều ông trăn trở nhất hiện nay?
Tôi thấy mình xây dựng nhiều quá. Nước mình phong cảnh rất đẹp, đa dạng sinh học rất tốt, nhưng phát triển phải đi kèm với tôn trọng môi trường. Tôi được biết, con tê giác một sừng cuối cùng ở nước mình vừa chết; tôi đi Hạ Long thấy vịnh nhiều khách sạn quá, nước vịnh rất ô nhiễm. Đây là những thứ quý giá mà thiên nhiên ban tặng, nếu ta làm hỏng sẽ không thể lấy lại được.
Đã bao năm tìm kiếm nhưng các nhà khoa học chưa phát hiện ra hành tinh nào đặc biệt và có sự sống như trái đất, nên mình phải giữ gìn và bảo vệ trái đất bằng mọi giá. Thay vì đi khai thác các vệ tinh khác, hãy bảo vệ và lo cho trái đất, vì con cháu của chúng ta trước.
Cảm ơn ông!
Thanh Tuyền - Hương Lan (Nguồn: SGTT)

HT.Thích Giác Toàn nói chuyện với doanh nhân

GNO - Chiều thứ Bảy, 4-2-2012, HT.Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã có buổi pháp thoại thân mật đầu năm với doanh nhân tại Hội trường Mandala, 110 Sương Nguyệt Ánh, quận 1, TP.HCM.
IMG_0176.jpg
HT.Thích Giác Toàn gặp gỡ doanh nhân đầu năm trong chương trình "Chất lượng cuộc sống"
Gần 100 doanh nhân cùng thân nhân đã đến nghe Pháp. Pháp thoại này nằm trong chương trình “Chất lượng cuộc sống” do Nhà hàng chay Mandala phối hợp với Mani Media thực hiện định kỳ bắt đầu vào lúc 13g30 ngày thứ Bảy cách tuần.
IMG_0181.jpg
Nhiều doanh nhân và người thân đã đến dự
HT.Thích Giác Toàn đã căn cứ kinh “Điển Tôn” thuộc Trường A-hàm, đọc lại lời kinh và giảng giải nghĩa lý thâm diệu và thiết thực, gợi ý phản chiếu tâm thức vi tế của con người thời đại, đặc biệt là doanh nhân, để từ đó giúp mỗi người nhận diện bản thân, sống trí tuệ, hạnh phúc, thong dong hơn giữa bộn bề cuộc sống mưu sinh, làm ăn, ràng buộc gia đình, trách nhiệm xã hội… “Mỗi lần có dịp gặp gỡ quý vị, nhà sư sẽ chọn một bản kinh của Đức Phật để chúng ta cùng đọc, cùng tìm hiểu thông điệp mà Đức Phật đã dạy không gì khác hơn là hướng cuộc sống của mỗi chúng ta ngày càng cao hơn, hiền đẹp hơn. Đó là một trong những cách để nâng cao chất lượng cuộc sống - như chương trình đã đặt ra” - Hòa thượng chia sẻ.
IMG_0014 (38).jpg
Ông Lê Phước Vũ, Chủ tịch Tập đoàn Tôn Hoa Sen chúc Tết Hoà thượng và chia sẻ đầu năm
Hòa thượng cũng đã có bài thơ “Ngũ phúc xuân thiêng” - lời chúc xuân theo tinh thần nhà Phật đến với mọi người trong niềm hoan hỷ đầu xuân.
Được biết, đây là kỳ thứ 10 của chương trình “Chất lượng cuộc sống”. Sau mỗi buổi nói chuyện sẽ ghi hình, tặng đến người tham dự thường xuyên. Đĩa video cũng được phát hành tại cửa hàng Phật Ngọc, chi nhánh cùng địa chỉ trên.
IMG_0165.jpg
Chương trình Chất lượng cuộc sống tổ chức vào thứ Bảy cách tuần
Nguyên Đạt

TÔN GIẢI CA DIẾP VÀ ĐẠI KIẾT TẬP KINH ĐIỂN

TT. Thích Nhật Từ cảm tác bài thơ “Dâng Mẹ”

Mẹ được ví là một bầu trời, một mặt đất, một vầng trăng. Mẹ, là mãi mãi cho đi không đòi lại bao giờ Thân mẫu của TT. Thích Nhật Từ cũng vậy, suốt một đời tần tảo, hy sinh, lo lắng cho chồng, nuôi dạy con nên người hữu dụng. Tám mươi mốt năm hiện hữu giữa cõi đời, bà đã dành 2/3 cuộc sống của mình để lo cho những đứa con nên hình nên vóc.
Trong những năm đầu xuất gia học Phật, TT. Thích Nhật Từ đã gặp không ít những khó khăn, vấp ngã, bệnh tật, biết bao lần muốn ngã gục giữa bảo tố phong ba. Những tháng năm du học xa nhà trong nỗi phập phồng trăn trở,... nhưng rồi thầy vẫn đừng dậy, hiên ngang bước qua bao khăn khó giữa cuộc đời, để trở thành bậc hiền tài của đạo pháp, quê hương, ấy là nhờ đâu? Phần lớn chính nhờ trái tim thương yêu bao la của mẹ. Những lời cổ vũ, động viên, sách tấn, cảm thông, chia sẻ từ trái tim của mẹ. Hơn bao giờ hết những lúc gặp khó khăn, mẹ luôn là người đầu tiên hiện hữu để thầy vững tin hơn trên con đường mình đã chọn.
Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng
Hoa trong vườn không gió cũng xôn xao
Chỉ còn một đêm nay nữa thôi, ngày mai thầy sẽ tiễn mẹ về với Phật. Sự mất mát ấy với thầy là quá lớn. Bởi mẹ là người thầy thương yêu nhất, kính trọng nhất,... bài thơ này thầy đã cảm tác tại tang lễ của mẹ. Với câu chữ mộc mạc đơn sơ, nhưng là tất cả tấm chân tình thầy kính dâng về mẹ, là sự tri ân, tiếc nhớ, kính thương. Nó mộc mạc đơn sơ như chính cuộc đời của mẹ, như chính cả sự hy sinh thầm lặng lớn lao, như chính những công hạnh thầy làm được xin tặng về cho mẹ.
Xin trích dẫn bài thơ:
Mẹ tôi không biết sang giàu
Sớm chiều gian khó đêm thâu một mình
Vì chồng, con phải hy sinh
Cần cù quen tánh, lặng thinh quen đời
Lời ru mẹ hát tuyệt vời
Dù cho trọn kiếp con người chẳng quên
Thích Nhật Từ Kính mẹ!

DIỆU ÂM HOẰNG PHÁP 2

DIỆU ÂM HOẰNG PHÁP 1

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

Việt Trinh một diễn viên theo đạo Phật

                      
                                                                     

NHẪN NHƯNG KHÔNG NHỤC-HT GIÁC TOÀN


PHIM HOẠT HÌNH TRUYỀN THUYẾT VỀ PHẬT THÍCH CA


        
                   
                      

PHIM ÁNH ĐẠO VÀNG


 

                                                                                    

PHỎNG VẤN CHÚ TIỂU THÍCH CHÂN TÂM



                              
                                                                                                                     
                                         

 




                               
                                                                         

PHIM KHẨU ĐẦU THIỀN


                                                                                     


PHIM HOẠT HÌNH GIAN NAN TÌM MẸ



 

Lợi ích của trà xanh

Chống ung thư
Năm 1993, bác sĩ Chung S. Yang, Đại học Rutters ở New Jersy, Hoa Kỳ cho hay laf trà với chất polyphenols có khả năng ngăn chặn sự hình thành và tăng trưởng của tế bào ung thư. Kết quả nghiên cứu tại Viện ung thư British Columbia, Canada cho hay tannin của trà có thể ngăn chặn sự hình thành  của hóa chất gây ung thư nitrosamin.
Tháng 12 năm 2005, nhóm nghiên cứu tại viện Karolinska, Thụy Điển cho biết phụ nữ uống một li trà mỗi ngày có thể giảm nguy cơ ung thư buồng trứng tới 50%. Đó là do tác dụng của các chất polyphenols trong trà.
Giảm nguy cơ bệnh tim mạch
Tháng 9 năm 2002, Jóeph Judd, Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng Beltsville, tiểu bang Maryland cho biết: uống nước trà liên tục trong 3 tuần lễ có thể làm giảm cholesterol LDL tới 10%.
Các đệ tử của trà, dù là trà đen hay trà xanh, trà nóng hay trà đá, đều ít bị chết trong vòng 3-4 năm sau khi bị cơn đau tim so với những người thích dùng các đồ uống khác. Kết luận này được các nhà khoa học Mỹ đưa ra sau khi tiến hành nghiên cứu trên 1.900 bệnh nhân ở độ tuổi 60 bị một cơn đau tim. Họ được theo dõi trong vòng 4 năm, bắt đầu khoảng 4 ngày sau tai biến nói trên và được chia làm 3 nhóm: Nhóm 1: không uống trà. Nhóm 2: uống trà vừa phải ( dưới 14 tách/ tuần trong vòng 1 năm trước khi bị cơn đau tim). Nhóm 3: uống nhiều ( hơn 14 tách/ tuần). Thống kê cho thấy, bệnh nhân thuộc nhóm 2 thường dùng 2 tách trà / tuần, còn những người thuộc nhóm 3 thường dùng 19 tách trà / tuần. Sau gần 4 năm, 313 người tham gia nghiên cứu đã chết (chủ yếu là vì bệnh tim mạch). Các nhà nghiên cứu nhận thấy, bệnh nhân càng uống nhiều trà thì nguy cơ tử vong trong 4 năm sau khi bị đau tim càng thấp: nguy cơ bị đau tim giảm 28% ở nhóm uống trà vừa phải và 44% ở nhóm uống trà nhiều.
Giải độc
Trong Đông y, trà được dùnhg trỏng một số trường hợp nhiễm độc kiềm và thảo dược. Những người làm việc nhiều với tia phóng xạ vẫn xem thói quen uống trà hằng ngày là giải pháp tự bảo vệ mình trước các tia bức xạ độc hại. Các nhà khoa học cho biết: hoạt chất axit tanic trong trà còn có tác dụng thu giữ, làm lắng đọng các gốc kim loại tự do, có thể dùng cho những người bị nhiễm độc kim loại nặng, kể cả thủy ngân. Tình trạng nhiễm độc CO2 ở các lò than hay ngộ độc rượu cũng có thể giảm bớt nhờ uống trà đặc. Ngoài ra, chất tanin trong trà  còn có tác dụng làm se niêm mạc ruột, rất hiệu quả trong các trường hợp tiêu chảy cấp. Theo kinh nghiệm dân gian, có thể đùng nước chè tươi đậm đặc hoặc chè tươi giã nát đắp vào các vết hăm, lở loét, viêm tấy hay các vết nứt da do lạnh để giúp vết thương mau lành. Còn để chữa bầm dập do chấn thương, có thể trộn búp chè tươi với dấm để đắp.
Trợ tiêu hóa
Là một dược tính được công nhận của trà, nhất là các loại đồ ăn nhiều chất béo hay chất thịt. Vì thế, vào các quán ẩm thực luôn luôn có trà uống kèm theo. Lý do là các đồ ăn này đều có nhiều dầu mỡ (và vì thế khiến nhiều người khen ngon).
Bảo vệ răng
Khả năng này là do tács dụng của chất fluor trong trà.Đây là một lợi điểm cho những người tiêu thụ nước không có đủ chất fluor, như nước giếng… Tại nhiều quốc gia, nước cung cấp cho dân chúng được cho thêm fluor và nhờ đó, tỉ lệ hư răng giảm xuống rất nhiều. Kết quả nghiên cứu tại ĐH Nha khoa Illinois cho hay: chất tanins trong trà cũng có khả năng diệt các vi khuẩn gây viêm nướu răng. Nhật Bản có sản xuất loại kem đánh răng có chứa chất tanins.
Chắc xương
Các nhà nghiên cứu tại Bệnh viện Đại học Quốc gia Cheng Kung(Đài Loan) đã tiến hành nghiên cứu trên hơn 1.000 nam và nữ tuổi 30 và  lớn hơn. Một nửa trong số này có thói quen uống trà thường xuyên trong vòng ít nhất 1 năm. Phần lớn  đều dùng trà xanh hay trà ô long không pha thêm sữa. Kết quả cho thấy, mật độ xương hông tăng 6,2% ở những người dùng trà đều đặn trong hơn 10 năm và tăng 2,3% ở  những người dùng trà trong hơn 5 năm so với những người không dùng đồ uống này. Tuy nhiên, không có  sự khác biệt đáng kể giữa những người uống trà 1-5 năm so với những người không uống trà. Theo các nhà nghiên cứu, tác dụng củng cố xương của trà có được là nhờ 2 thành phần fluor và flavonoid. Gãy xương do loãng xương và giảm nồng độ xương đang trở thành vấn đề toàn cầu do số lượng người già ngày càng tăng. Một số tính toán cho rằng gần 1/2 dân số Mỹ tuổi từ 50 trở lên bị  chứng bệnh này.
Trà xanh làm giảm tác hại của thuốc lá
Một nghiên cứu của  Đại học Arizona (Mỹ) cho thấy, thói quen uống trà  xanh thường xuyên có thể giúp giảm các nguy cơ  bệnh tật mà việc hút thuốc lá mang lại. Các nhà khoa học đã tiến hành thử nghiệm trên 140 người hút thuốc lá. Những người này được chia làm 3 nhóm: uống nước, uống trà đen và uống trà xanh với liều lượng 5 ly mỗi ngày. Kết quả xét nghiệm nước tiểu sau 4 tháng cho thấy, mức 8-OHdG – một chất tàn phá tế bào, dẫn đến ung thư hoặc các bệnh hiểm nghèo khác – ở nhóm uống trà xanh thấp hơn 25% so với nhóm kia.
Kéo dài tuổi thọ  con người
Các nhà khoa học  ở trường Đại học Tohoku (Nhật) vừa công bố  một công thức sống thọ độc đáo : chỉ cần uống đều đặn 5 tách trà xanh /ngày ! Công thức lý thú  trên dựa vào kết quả một công trình nghiên cứu kéo dài suốt 11 năm của tiến sĩ Shinichi và các cộng sự  trên 40.000 người tình nguyện cả hai giới ,trong độ tuổi từ 40-79 ở miền đông bắc nước Nhật ( khu vực có đến 80% dân số có thói quen uống trà xanh). Sự kỳ diệu của tuổi thọ ở những người thường xuyên uống trà xanh là do tác dụng của hợp chất polyphenol – được biết đến như một chất chống oxy hóa có hiệu quả - tìm thấy trong trà xanh, có tác dụng tích cực trong việc kéo dài tuổi thọ của con người.  Nghiên cứu này đã được công bố trên tạp chí Y khoa của Mỹ và được giới khoa học đặc biệt quan tâm
Trà làm đẹp cơ thể
Tăng trí nhớ
Tháng 2 năm 2004, nhóm nghiên cứu tại Đại học Newcastle, Anh Quốc công bố rằng uống trà đều đặn mỗi ngày có thể làm tăng trí nhớ. Các nhà khoa học đang nghiên cứu xem liệi các hóa chất trỏng trà có tác dụng tốt nào cho bệnh nhân bị sa sút trí tuệ như bệnh Alzheimer.
Tỉnh ngủ, tinh thần sảng khoái
Theo PGS TS Trương Văn Tuấn, giảng viên trường ĐH Y Dược TP.HCM: “Theanine là hợp chất đóng vai trò xúc tác trong quá trình trao đổi chất, đồng thời là tác nhân giúp các hoạt động của não được cải thiện một cách đáng kể và nâng cao khả năng tập trung trong suốt thời gian 5 tiếng sau khi uống. Tinh thần thư giãn nhưng vẫn tỉnh táo, có cảm hứng sáng tạo, giúp tìm ra giải pháp mới”.
                                                                                    Sưu tầm

TẬP THƠ GIÁC HUỆ

Đời Giải Thoát
Mến tặng những nhà Tăng Sĩ đã dâng kiếp sống của mình cho vạn loại.
Thà đời Hạc nội không lương bổng,
Hơn kiếp gà nhà có thớt, dao.                        
Đời giải thoát là sao? sao giải thoát?
Giải cái chi? Và thoát khỏi cái chi?
Giải thoát xong, được ích lợi điều gì?
Không giải thoát, có điều chi hại chứ?.
Đó! Ý tưởng hoài nghi còn ấp ủ:
Trong hồn tôi, trong ký ức của tôi,
Xin ai kia chớ tiếc…một, đôi lờI,
Đem tỉ dụ giải bày, cho cụ thể.
-Đây! Tăng Sĩ tài hèn song chẳng nệ:
…Bút cùn mằn, gượng giải phẩu sơ qua.
-Giải thoát là tháo, mở với thoát ra…
…Những tội lỗi và những điều dục vọng.
Biết bao kẻ, lánh phiền ba, náo động.
Vào rừng xanh, bộng đá, để trau tâm.
Nhưng còn vương những dĩ vãng âm thầm.
Nào vợ đẹp, nơi phương trời xa thẳm.
Nào:cháu dại, vừa bước đi lẩm đẫm,
Nào mẹ hiền tựa cửa ngóng, trông tin,
Nào mê man đôi khúc nhạc huê tình,
Nào vọng cổ “Út trà Ôn” muồi riệu.
Thế! chưa phải đắc lý chân huyền diệu.
Thân xa lìa, mà trí chẳng lìa xa…
Thân xuất gia, mà tánh cứ tại gia.
Thân giải thoát, mà lòng chưa giải thoát.
Tuy vẫn biết thân tâm đều giải thoát.
Là khó khăn hơn vượt núi, trèo non…
Song nhớ rằng hễ ”nước chảy, đá mòn”
Nếu có chí, lo gì không kết quả?
Có xuất trận, mới tường con chiến mã,
Không phong ba nào rõ sức nghê, kình.
Con phượng hoàng tung cánh lướt trời xanh,
Dù gió bạt, vẫn không hề bạt gió.
Kìa! con hổ thoát chuồng con vò võ,
Gặp rừng cây xào xạc, nắng vàng hanh,
Thì tự do gào, thét mặc tung hòanh,
Lâm sơn động, từ đây mình…chúa động.
Gầm một tiếng, loài…thỏ cheo…tê cóng,
Hơn giam mình trong cũi sắt trăm năm…
Tuy no nê, nhưng cái sống âm thầm,
Không triển vọng, bị lũ chồn khinh rẻ.
Trong gác tía, lầu son, tuy mát mẻ,
Có nước trong, gạo trắng, sẵn lồng vàng.
Nhưng làm sao giam hãm cánh chim bằng?
Thà bữa đói,bữa no, mà khỏe, nhẹ.
Dưới bể thẳm, vòi nước phun: tung tóe…
Con kình, nghê càng thích chí quậy đuôi.
Nhưng tham mồi, thôi ngang, dọc…và thôi.
…Đùa sóng nước, ngông chơi miền hạ giái.
Đời giải thoát, nghĩa là đời tự tại!
Nghĩa là đời hồ hải rộng thênh thang…
Nghĩa là đời hạc nội bốn phương ngàn.
Trời, đất rộng…mặc tình…ta qua lại…
Đời giải thoát, nghĩa là đời tự tại!
Không như đời con hổ…bị sa cơ,
Không như thân con cá…ở trong lờ,
Mà như thể…con chim trời tung cánh…
Hổ sa-cơ, thôi hết đời dõng mãnh,
Cá trong lờchỉ đợi chảo nước sôi.
“Ôi! Thôi rồi nồi xôi! ối! nồi xôi”
Người sẽ nhắp vài ba chai “xị-đế”.
Sòng”tài-xỉu, Kim chung” đời khi dễ,
Chén”Hoàng Mai” chếnh choáng khách
“Lưu Linh”,
Ả Hằng Nga, kiệt xác kẻ đa tình,
Bàn nha phiến, gầy gò thân tiết liệt.
Vậy: mỹ nữ là hòm chôn tuấn kiệt,
Dĩa: dầu hôi là mã chúng thiêu thân,
Bả vinh hoa là ngục nhốt tinh thần,
Mồi phú quí là mồ trang sĩ họan.
Ta muốn khóc, nhưng dòng châu đã cạn,
Ta muốn cười, nhưng cười nỡ được đâu?
Muốn vui lên, sao cứ mãi dâng sầu!
Ôi! kiếp sống chỉ…buồn! đau! khổ! hận?
Song nhân thế chớ lấy làm bất nhẫn,
Mà bi quan, ta cần phải lạc quan!
Phải vững lòng, phải đứng dậy lên đàng…
Nay: chiến bại, ngày mai là: chiến thắng!
Trong tăm tối, ta đi tìm sáng lạn,
Trong gông cùm, ta tiến tới tự do.
Trong đói lòng, ta kiến tạo ấm no,
Trong nhục tủi, ta trừ tiêu tủi nhục.
Trong đau khổ, ta chuyển thành hạnh phúc,
Trong bất công, ta xây lẽ công bằng,
Trong bất công, ta xây lẽ công bằng,
Trong bị trị, ta làm sao tự trị.
Mà muốn thế, phải đến đời Tăng Sĩ,
Gỡ tóc mây, ẻo lả, chặt dây tình,
Muốn đại hùng, phải có chí hùng anh,
Nâng lợi tỏa, danh cương, rồi bứt đứt.
Muốn đại lực, phải kiên tâm nổ lực,
Xé càn khôn, đạp lưới sắt gia đình,
Rọi đèn từ, sáng tỏ cõi u minh,
Vung chiếc gậy ”Kim Cang” trừ lục tặc.
Như Hoàng Tử Bạc Đề còn xuân sắc,
Cũng chẳng màng, xóa bỏ sắc còn xuân.
Mặc mưa dầu, nắng dãi, sỏi ê chân,
Vai vẩn khoác “Hùynh y”, lo cứu độ.
Người giải thoát, là những người giác ngộ,
Là những người, xem cái sống như không.
Là những người, xem chết tợ lông hồng,
Sống hay chết, nào có gì trói buộc.
Miễn mục đích mình đạt thành là được,
Thì, tiếng khen: hay, dở có  cần gì!
Thì, tiếng cầm, tiếng sắt, có màng chi!
Thì, tiếng thị, tiếng phi là vô nghĩa.
Vậy! ai muốn: Máu thôi loan chiến địa,
Đầu thôi rơi… ở tận bãi sa trường…
Xương thôi phơi…khắp mãnh đất quê hương…?
-Thì phải tiến theo lá cờ giải thoát.
 -Ai tạo ác? Ngày, đêm, mong dứt ác?
-Ai đã sầu? tháng tháng muốn tiêu sầu?
-Ai đã đau? Phút phút ước lìa đau?
-Cũng phải tiến theo lá cờ giải thoát.
 Giác Huệ
TRÒ ĐỜI
Giác Huệ
Xem qua sự thế, dạ bùi ngùi!
Kẻ dở: ganh hiền,giỏi: trốn chui.
Cắc ké chê kè thân sặc sỡ.
Thằn lằn ngạo mối vảy sần sùi
Hoa thơm! Chúa ỷ khinh trôm thúi,
Lá rậm, tùng kiêu, biếm sứ cùi.
Vạn vật, muôn hình,nghìn vẻ đẹp,
Tri nguyên cội gốc, sẽ hòa vui.
Giác Huệ Thi Tập
 Hai Chí Hướng
“Lời nói là gươm: người Khất Sĩ, bút lông là kiếm: khách văn chương”
Chiều đổ xuống, đàn chim về tổ ấm,
Con đang ngồi thơ thẩn ngắm mây bay.
Chợt! hình cha hiện đến vóc…gầy gầy,
Theo sương khói, mờ mờ…con chạnh nghĩ:
Cha, thuở trước, cha là nhà văn sĩ,
Rút ruột tằm, trả nợ lá dâu xanh.
Rồi đêm đêm cha thức quá tàn canh,
Lo nặn óc, trải lòng, trên giấy thắm…
Con, hiện tại, con là đời vạn dặm…
Gót hải hồ, phiêu bạt khắp năm châu.
Lấy tàn hơi, chỉ rõ lý đạo mầu,
Cho lữ khách quay đầu về Phật, Pháp.
Dù quyền lực , hay phong trần, bão táp,
Ngọn”bút lông” cha cứ việc hươi lên…
Dù máu hồng, hoặc lửa đạn, mưa tên,
Lời”chơn đế” con vẫn hùng hồn thuyết.
Phú quý! Công danh! Tiền tài! Yến tiệc!
Có thay lòng, đổi dạ, của cha đâu.
Vinh hoa! Mỹ nữ! Khanh tướng! Công hầu!
Không lay chuyển lòng sắt son con được.
Cha: chỉ biết ”lương tâm”, làm mực thước,
Con chỉ cần ”chơn lý”, ấy phương châm.
Nếu màu “thâm”, cha viết:”nó là thâm”
Không vụ lợi cha viết:”thâm là trắng”
Bằng màu ấy là thứ màu:”trong trắng”
Không bao giờ con bảo ”trắng là thâm”.
Phải vương tơ, là bổn phận con tằm,
Còn thuyết pháp, là hành viTăng lữ.
Một ngọn bút, cha tung vô lượng chữ,
Để nâng cao ”chánh lý”, phá ”dâm tà”.
Đôi môi hồng con thong thả ngâm nga,
Vài câu kệ, lấp tiêu điều mộng mị.
Vậy; ý chí, mục phiêu, đồng xả kỷ;
Rồi cha, con, cứ tiến…tiến bon bon…
Nhưng hỡi ôi! Bao hoài bão chưa tròn,
Cha vội thác, khi đời còn tươi trẻ.
Nhìn mộ xám, cỏ úa vàng buồn-tẻ,
Nhạc dế sầu, rỉ rã…khóc: năm canh.
Gió rai-lai, vài chiếc lá lìa cành,
Làn mây tím âm thầm trôi…khắp nẻo…
Con vội dệt vần thơ, lòng lạnh lẽo
Kính dâng cha, miền tiên cảnh xa xôi…
Xin nhớ rằng: dù vật đổi, sao dời
Con vẫn tiến mặc tình đời lạnh, ấm.
Giác Huệ
Chiến Thắng
Tung chân đạp, cho đổ tường giãi đãi
Vung đôi tay, cho đứt sợi tơ tình
Thổi gió lên, cho thấy rỏ trời xanh…
Vẹt mây xám, cho ánh hồng lố dạng.
Dù gặp phải tam đồ, vương bát nạn
Cười khinh nguy, cứ vững bước ngang nhiên.
Nuốt chua cay, miễn chí nguyện vẹn tuyền.
Cải tục lụy, hòan tòan thôi hệ lụy.
Tiến! tiến! tiến! Ta là người chiến sĩ.
Mà tâm tư là một bãi sa trường
Mà quân thù là bè lũ ma vương
Còn tướng tá, là tham lam, sân giận.
Ta quyết tiến, đánh tan, tiêu diệt tận
Cho đến khi cướp được ải Niết Bàn,
Treo Hùynh kỳ phất phới ánh vinh quang.
Mới cầm chắc trong tay nguồn thắng lợi…
Ồ gió sớm reo hò trong nắng mới,
Đây hương đời thơm ngát ý từ bi,
Hãy ra di, chớ ngại, phải ra đi,
Say chiến đấu mong ngày mai chiến thắng.
Nếu tiến mãi…dù mệt nhòai cũng đặng
Bằng rút lui, là chưa chiến đã thua
Thuyền ra khơi, mà sợ sóng gió đùa
Tâm như thế, là tâm hồn yếu ớt.
Cây quỵ ngã: do đốn xong”búa chót”
Thành xây nên: bởi viên đá”sau cùng”
Sợ làm chi, chỉ một trận thư hùng
Mà kẻ thắng, là thắng khi”trận cuối”.
Khóc: nhục nhã, r ên: hèn, than: yếu đuối
Hơi còn đây, nghị lực hãy còn đây
Và còn đây: chí hướng độ muôn lòai
Thì đứng dậy, cười lên, hùng dũng tiến.
Giác Huệ
Vịnh Thái Tử: Sĩ Đạt Ta
Xem qua tứ khổ, biệt loan phòng,
Dưới cội Bồ Đề chứng lục thông.
Lộc giã vi vu luồn pháp vũ,
Sa La thổn thức ngọn trào lòng
Vầng mây đỉnh Thứu, tan lời sắc,
Cổ thọ vườn Kỳ, vắng tiếng không.
Thập nhị kinh văn, thiên cổ tụng,
Hăm lăm thế kỷ lệ tuôn giòng…
Cánh chim bạt gió
“Ai đi mãi miết trong sương gió,
Thỉnh thỏang xin dừng nghe tiếng chuông”.
Thuở ấy: bạn lòng quảy bát y,
Như chim sòe cánh, cá giương kỳ.
Chim kia sòe cánh bay bay liệng,
Cá nọ giương kỳ: lội lội đi.
Trời rộng…lửng lơ đôi cánh nhạn…
Bể sâu thong thả một con Kình…
Tiêu dao: năm, tháng, ngày, nhanh nhẹn.
Điệp nở, điệp tàn, bốn độ xinh.
Bỗng, cánh chim kia…thôi quạt gió,
Đôi kỳ cá nọ: hết giương mau.
Chim thôi quạt gió: chim sa lưới,
Cá xếp vi, kỳ: cá vướng câu.
Chiều ấy…bạn đi, chiều lá rụng…
Chiều nay…trở lại, điểm heo may.
Điệp xưa: rơi đỏ, mừng cho bạn,
Nay: khóc con chim sớm lạc bầy.
Đây: tả tơi cây, lồng lộng gió…
Sầu! mây du lịch bốn phương ngàn.
Trong sương có kẻ lâm râm nguyện;
…”Cho một con chim sớm gặp đàn”.
Một phương pháp thư giãn giúp an lạc trong cuộc sống 
Thế gian ngày nay con người dễ chi phối và tác động bởi môi trường ngoại cảnh xung quanh làm cho con người khó chịu và bất an. Cho nên vấn đề thư giản rất quan trọng, đưọc xem như là một phương pháp giúp con người được an vui, và trở lại sự bình ổn nơi tâm sau thời gian làm việc mệt nhọc. Chính điều này thư giản là vấn đề cần phải biết để sử dụng trong mỗi chúng ta. Như chúng ta biết thư giản có nhiều cách nhưng vần đề thư giản làm sao cho chúng ta được an vui mà còn phát triển nhiều thiện lành và tăng trưởng trí tuệ. Có thể dùng hình thức từ đời đến đạo, từ hành động đến ý thức từ thấp đến cao, cụ thể thực hành những phương pháp sau:
1. Tư duy theo nhà Phật để đi đến vô chấp lìa khổ được vui, không chấp tôi, của tôi hay vào cái có, không, cái ngã sở của ta.
2. Thực hành những công việc để đem lợi ích như thay đổi oai nghi tu hành bằng cách lễ Phật, tụng kinh, đi kinh hành… vừa được an lạc hiện tại lại vừa chuyển đổi nghiệp chướng đã tạo ở quá khứ.

                                                                  
3. Hoặc nghe pháp, nói chuyện, bàn luận đạo pháp của bậc Thánh, xem phim Phật giáo, hay nghe nhưng gì liên quan đến giáo lý và lời dạy của đứcPhật.
4. Liên tưởng đến một số cách thư giản của các tác giả nổi tiếng theo cách thư giản của người thế gian như nghe nhạc, du lịch, ca hát, thể dục, hóng mát….
                                                                 
                                      

5. Hay quán tâm từ, bất tịnh, quán đi đến lìa khổ và để bớt đi sự chi phối từ ngoại cảnh.
6. Hãy xem tất cả những gì mình không thích là của mình để không phiền não hay do ta nhìn hạn hẹp nên thấy mọi thứ khó chịu không cảm thông được. Hoặc do chúng ta càng tu thì tâm thanh tịnh hay có nhiều phước thuận duyên nếu ta không có chánh kiến, nhìn rộng thì sẽ dễ khởi niệm chấp ngoại cảnh do còn ngã nên chấp tôi và ta…
Tư duy theo Phật giáo để được an vui hạnh phúc: Chúng ta khổ đau hay khó chịu không an vui là do tâm lý con người bị cảnh tác động lên các giác quan đưa đến những cảm giác, cảm thọ có nhận thức, nếu có chánh kiến thì có tư duy và hành động chơn chánh….  Do chúng ta vô minh không thấy rõ sự thật nên chấp khổ đau, không thấy rõ nghiệp báu nhân quả nên bị nghiệp chi phối, nếu người có chánh kiến thì biết  các pháp là do nhân duyên và những gì đến với ta điều có nhân cả, do đó điều gì đến ta phải chấp nhận và hoan hỷ. Nhờ có chấp nhận và hoan hỷ nên mới trả được nghiệp, bên cạnh còn phải tích luỹ nhân thiện lành, tinh tấn tu tập để thoát khổ đau, đem sự an vui cho người. Tâm lý chúng sanh thì thích sự thụ hưởng vui thích của thế gian, lúc nào cũng muốn những gì thích, theo ý mình nên khi gặp gì không ưa, chướng duyên là khó chịu. Cho nên những người nghiệp năng nói đến tu là họ không thích hay do nghiệp và chưa đủ duyên nên nói đến tu là họ rất chán. Đối với người có duyên lành thì gặp được Phật pháp chịu cố gắng hành trì và gặp được thầy hợp nhân duyên hướng dẫn mau tiến bộ. Từ đó có niềm tin Tam bảo và cố gắng hành trì tu tập. Lúc này tinh tấn tu và không còn ham thích những chuyện thế gian nhiều và những hình thức thú vui bên ngoài nữa.
Ngay từ lúc nhỏ mà chúng ta biết tu bổ và trao dồi những kinh nghiệm của đời cũng như đạo, tập cho tâm kiên cố để khi tiếp xúc với cảnh hay làm việc gì chúng ta vững vàn vượt qua hay biết diệu dụng hay biết dùng nhiều phương tiện thiện xảo để tâm không lay chuyển và dao động. Nhờ có tu và có học nên có đức độ và tài năng đến khi làm việc nói ra được nhiều người nghe và làm theo, và biết ứng dụng pháp tuỳ duyên với con người để cho phù hợp căn tánh chúng sanh. Nhờ tuỳ thuận căn cơ nên hiểu được việc tu nên ý thức tu tập không buông lung và say mê theo cảnh. Cụ thể: Đối với người tu thì phương tiện cho người để tu tập, cho những chúng sanh nào chưa biết đạo thì nên dùng hình thức thế gian để tạo duyên với họ. Sau đó chỉ cho họ tu và nhận thức rõ con đường để đi đến hạnh phúc giải thoát. Đối với người tu tập cao đầy đủ năng lực, duyên phước có đủ thiện xảo mới làm phương pháp này.
Chúng ta biết tu không phải thuận duyên hoài, cái nghịch cảnh mà ta vượt qua được cũng trở thành thuận vì ai cũng phải gặp cảnh nghịch, Cái nghịch do tâm chúng ta khó chịu, không chịu tu nên khổ đau chúng ta phải cẩn thận trong hành động và việc làm để tránh những đáng tiếc xẩy ra. Nhờ có tu nên vượt qua, biết thông cảm và thương xót tất cả mọi người. Mà ngày nay xã hội phát triển, khi con người càng phát triển thì sống chỉ biết mình thiếu tình người và ai cũng lo tạo nhân cho bản thân, và thiếu tu tập nên chịu nhiều khổ đau. Do đó chúng ta phải ý thức thư giãn theo lời Phật dạy để sống không bị cảnh chi phối, chúng ta phải quan tâm thương xót đến người, càng sống cho người, vì mọi người, biết quan tâm chia sẻ thì nhất định ta được an vui hạnh phúc và ít bị nhiếu oán thù khổ não. Mỗi người chúng ta, ai cũng có nghiệp xấu do đó phải tạo nhân để tích luỹ thiện, nếu muốn tu mà chưa đủ duyên và chưa trả hết nghiệp thì không thành tựu được, vì thế hãy tích luỹ tu trì, hành thiện và trả nghiệp. Việc tạo nhân có thể bằng cách: tu tập gìn giữ giới, an trú tâm, quán sự vô thường, các pháp là huyễn hay dã hợp… hoặc tích cực khởi niệm lành biết thông cảm tha thứ hướng đến số đông.
Và một điều nữa là tu không phải lúc nào cảnh cũng như ý vơí ta, mà cảnh luôn thay đổi theo nhân duyên, nhưng làm sao chúng ta sống với cảnh mà ý thức làm chủ được không bị chi phối. Nhưng nhờ ý thức được nên biết đây là cảnh thế gian, không đưa đến giải thoát. Nhưng do phải trả nghiệp nên phải chấp nhận hoan hỷ đối diện và làm những hành động tốt, ta làm nhưng không chấp vì làm hành động lành đây cũng là nhân để trợ duyên việc tu tập sau này và vừa tạo duyên với những chúng sanh. Ví dụ: Đối với người tu khi ta sống hiện tại nên tiếp xúc với chúng sanh để tạo duyên cho họ tu tập nếu họ chịu tu thì nói pháp tu, còn chưa đủ duyên thì chỉ làm quen, gieo duyên. Do vì tu nên phải tiếp xúc hay do vì nhân quá khứ đã gieo nên phải trả và khi tiếp xúc hoá duyên mà ý thức đến tu hành, hoá duyên tiếp xúc mà hiểu được đây là do duyên nên phải làm, nhờ đó không chấp vào việc làm và không bị cảnh chi phối. 
Cuối cùng để ý thức và làm chủ được tâm mình khi làm việc hay tiếp xúc cảnh thì trước hết chúng ta phải lo tu tập, trao dồi trí tuệ, thực hành có chánh niệm để làm chủ và ý thức được. Chúng ta đừng để tới già mới ý thức việc tu mà tu trong mọi lúc vì vô thường không chờ một ai, nhờ đó tâm không dám phiền muộn mà lo tu hành. Khi xã hội phát triển thì vô thường ngày càng tiến đến gần đeo đuổi ta, chúng ta không phải để tới bịnh đau và già yếu mơí thấy được vô thường mà vô thường sanh diệt luôn diễn ra, nhờ thấy vô thường để thúc liễm thân tâm ý thức trong tu tập không lơ là, dễ duôi trước ngoại cảnh và không tham đắm trước cảnh đời. Nhưng vì duyên đến nên phải chấp nhận phải làm cho tốt, nên hoan hỷ, tinh tấn tu tập tạo nhiều nhân lành, biết con người ai cũng chết, chúng ta mà bịnh đau là do nghiệp phước mỗi người nhưng nhờ có tu nên giúp ta ý thức để tu còn những người ở đời không thấy vô thường mà vẫn tự nhiên sống để khi vô thường đến rồi không ý thức và làm chủ, nên phải bị chịu luân hồi khổ đau.
Với những phương pháp chia sẻ trên mong mọi người hiểu được phương pháp này để giúp chúng ta được an lạc hạnh phúc ngay hiện tại, không những giúp cho ta có được một nhận thức rõ về sự khổ và biết một cách thức sử dụng linh hoạt khi gặp những điều căng thẳng, khó chịu xảy ra. 

                                                                                                          Bài viết:   SƯ MINH GIẢI


Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

NHẠC CHÚ ĐẠI BI