Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2012

TẬP THƠ GIÁC HUỆ

Đời Giải Thoát
Mến tặng những nhà Tăng Sĩ đã dâng kiếp sống của mình cho vạn loại.
Thà đời Hạc nội không lương bổng,
Hơn kiếp gà nhà có thớt, dao.                        
Đời giải thoát là sao? sao giải thoát?
Giải cái chi? Và thoát khỏi cái chi?
Giải thoát xong, được ích lợi điều gì?
Không giải thoát, có điều chi hại chứ?.
Đó! Ý tưởng hoài nghi còn ấp ủ:
Trong hồn tôi, trong ký ức của tôi,
Xin ai kia chớ tiếc…một, đôi lờI,
Đem tỉ dụ giải bày, cho cụ thể.
-Đây! Tăng Sĩ tài hèn song chẳng nệ:
…Bút cùn mằn, gượng giải phẩu sơ qua.
-Giải thoát là tháo, mở với thoát ra…
…Những tội lỗi và những điều dục vọng.
Biết bao kẻ, lánh phiền ba, náo động.
Vào rừng xanh, bộng đá, để trau tâm.
Nhưng còn vương những dĩ vãng âm thầm.
Nào vợ đẹp, nơi phương trời xa thẳm.
Nào:cháu dại, vừa bước đi lẩm đẫm,
Nào mẹ hiền tựa cửa ngóng, trông tin,
Nào mê man đôi khúc nhạc huê tình,
Nào vọng cổ “Út trà Ôn” muồi riệu.
Thế! chưa phải đắc lý chân huyền diệu.
Thân xa lìa, mà trí chẳng lìa xa…
Thân xuất gia, mà tánh cứ tại gia.
Thân giải thoát, mà lòng chưa giải thoát.
Tuy vẫn biết thân tâm đều giải thoát.
Là khó khăn hơn vượt núi, trèo non…
Song nhớ rằng hễ ”nước chảy, đá mòn”
Nếu có chí, lo gì không kết quả?
Có xuất trận, mới tường con chiến mã,
Không phong ba nào rõ sức nghê, kình.
Con phượng hoàng tung cánh lướt trời xanh,
Dù gió bạt, vẫn không hề bạt gió.
Kìa! con hổ thoát chuồng con vò võ,
Gặp rừng cây xào xạc, nắng vàng hanh,
Thì tự do gào, thét mặc tung hòanh,
Lâm sơn động, từ đây mình…chúa động.
Gầm một tiếng, loài…thỏ cheo…tê cóng,
Hơn giam mình trong cũi sắt trăm năm…
Tuy no nê, nhưng cái sống âm thầm,
Không triển vọng, bị lũ chồn khinh rẻ.
Trong gác tía, lầu son, tuy mát mẻ,
Có nước trong, gạo trắng, sẵn lồng vàng.
Nhưng làm sao giam hãm cánh chim bằng?
Thà bữa đói,bữa no, mà khỏe, nhẹ.
Dưới bể thẳm, vòi nước phun: tung tóe…
Con kình, nghê càng thích chí quậy đuôi.
Nhưng tham mồi, thôi ngang, dọc…và thôi.
…Đùa sóng nước, ngông chơi miền hạ giái.
Đời giải thoát, nghĩa là đời tự tại!
Nghĩa là đời hồ hải rộng thênh thang…
Nghĩa là đời hạc nội bốn phương ngàn.
Trời, đất rộng…mặc tình…ta qua lại…
Đời giải thoát, nghĩa là đời tự tại!
Không như đời con hổ…bị sa cơ,
Không như thân con cá…ở trong lờ,
Mà như thể…con chim trời tung cánh…
Hổ sa-cơ, thôi hết đời dõng mãnh,
Cá trong lờchỉ đợi chảo nước sôi.
“Ôi! Thôi rồi nồi xôi! ối! nồi xôi”
Người sẽ nhắp vài ba chai “xị-đế”.
Sòng”tài-xỉu, Kim chung” đời khi dễ,
Chén”Hoàng Mai” chếnh choáng khách
“Lưu Linh”,
Ả Hằng Nga, kiệt xác kẻ đa tình,
Bàn nha phiến, gầy gò thân tiết liệt.
Vậy: mỹ nữ là hòm chôn tuấn kiệt,
Dĩa: dầu hôi là mã chúng thiêu thân,
Bả vinh hoa là ngục nhốt tinh thần,
Mồi phú quí là mồ trang sĩ họan.
Ta muốn khóc, nhưng dòng châu đã cạn,
Ta muốn cười, nhưng cười nỡ được đâu?
Muốn vui lên, sao cứ mãi dâng sầu!
Ôi! kiếp sống chỉ…buồn! đau! khổ! hận?
Song nhân thế chớ lấy làm bất nhẫn,
Mà bi quan, ta cần phải lạc quan!
Phải vững lòng, phải đứng dậy lên đàng…
Nay: chiến bại, ngày mai là: chiến thắng!
Trong tăm tối, ta đi tìm sáng lạn,
Trong gông cùm, ta tiến tới tự do.
Trong đói lòng, ta kiến tạo ấm no,
Trong nhục tủi, ta trừ tiêu tủi nhục.
Trong đau khổ, ta chuyển thành hạnh phúc,
Trong bất công, ta xây lẽ công bằng,
Trong bất công, ta xây lẽ công bằng,
Trong bị trị, ta làm sao tự trị.
Mà muốn thế, phải đến đời Tăng Sĩ,
Gỡ tóc mây, ẻo lả, chặt dây tình,
Muốn đại hùng, phải có chí hùng anh,
Nâng lợi tỏa, danh cương, rồi bứt đứt.
Muốn đại lực, phải kiên tâm nổ lực,
Xé càn khôn, đạp lưới sắt gia đình,
Rọi đèn từ, sáng tỏ cõi u minh,
Vung chiếc gậy ”Kim Cang” trừ lục tặc.
Như Hoàng Tử Bạc Đề còn xuân sắc,
Cũng chẳng màng, xóa bỏ sắc còn xuân.
Mặc mưa dầu, nắng dãi, sỏi ê chân,
Vai vẩn khoác “Hùynh y”, lo cứu độ.
Người giải thoát, là những người giác ngộ,
Là những người, xem cái sống như không.
Là những người, xem chết tợ lông hồng,
Sống hay chết, nào có gì trói buộc.
Miễn mục đích mình đạt thành là được,
Thì, tiếng khen: hay, dở có  cần gì!
Thì, tiếng cầm, tiếng sắt, có màng chi!
Thì, tiếng thị, tiếng phi là vô nghĩa.
Vậy! ai muốn: Máu thôi loan chiến địa,
Đầu thôi rơi… ở tận bãi sa trường…
Xương thôi phơi…khắp mãnh đất quê hương…?
-Thì phải tiến theo lá cờ giải thoát.
 -Ai tạo ác? Ngày, đêm, mong dứt ác?
-Ai đã sầu? tháng tháng muốn tiêu sầu?
-Ai đã đau? Phút phút ước lìa đau?
-Cũng phải tiến theo lá cờ giải thoát.
 Giác Huệ
TRÒ ĐỜI
Giác Huệ
Xem qua sự thế, dạ bùi ngùi!
Kẻ dở: ganh hiền,giỏi: trốn chui.
Cắc ké chê kè thân sặc sỡ.
Thằn lằn ngạo mối vảy sần sùi
Hoa thơm! Chúa ỷ khinh trôm thúi,
Lá rậm, tùng kiêu, biếm sứ cùi.
Vạn vật, muôn hình,nghìn vẻ đẹp,
Tri nguyên cội gốc, sẽ hòa vui.
Giác Huệ Thi Tập
 Hai Chí Hướng
“Lời nói là gươm: người Khất Sĩ, bút lông là kiếm: khách văn chương”
Chiều đổ xuống, đàn chim về tổ ấm,
Con đang ngồi thơ thẩn ngắm mây bay.
Chợt! hình cha hiện đến vóc…gầy gầy,
Theo sương khói, mờ mờ…con chạnh nghĩ:
Cha, thuở trước, cha là nhà văn sĩ,
Rút ruột tằm, trả nợ lá dâu xanh.
Rồi đêm đêm cha thức quá tàn canh,
Lo nặn óc, trải lòng, trên giấy thắm…
Con, hiện tại, con là đời vạn dặm…
Gót hải hồ, phiêu bạt khắp năm châu.
Lấy tàn hơi, chỉ rõ lý đạo mầu,
Cho lữ khách quay đầu về Phật, Pháp.
Dù quyền lực , hay phong trần, bão táp,
Ngọn”bút lông” cha cứ việc hươi lên…
Dù máu hồng, hoặc lửa đạn, mưa tên,
Lời”chơn đế” con vẫn hùng hồn thuyết.
Phú quý! Công danh! Tiền tài! Yến tiệc!
Có thay lòng, đổi dạ, của cha đâu.
Vinh hoa! Mỹ nữ! Khanh tướng! Công hầu!
Không lay chuyển lòng sắt son con được.
Cha: chỉ biết ”lương tâm”, làm mực thước,
Con chỉ cần ”chơn lý”, ấy phương châm.
Nếu màu “thâm”, cha viết:”nó là thâm”
Không vụ lợi cha viết:”thâm là trắng”
Bằng màu ấy là thứ màu:”trong trắng”
Không bao giờ con bảo ”trắng là thâm”.
Phải vương tơ, là bổn phận con tằm,
Còn thuyết pháp, là hành viTăng lữ.
Một ngọn bút, cha tung vô lượng chữ,
Để nâng cao ”chánh lý”, phá ”dâm tà”.
Đôi môi hồng con thong thả ngâm nga,
Vài câu kệ, lấp tiêu điều mộng mị.
Vậy; ý chí, mục phiêu, đồng xả kỷ;
Rồi cha, con, cứ tiến…tiến bon bon…
Nhưng hỡi ôi! Bao hoài bão chưa tròn,
Cha vội thác, khi đời còn tươi trẻ.
Nhìn mộ xám, cỏ úa vàng buồn-tẻ,
Nhạc dế sầu, rỉ rã…khóc: năm canh.
Gió rai-lai, vài chiếc lá lìa cành,
Làn mây tím âm thầm trôi…khắp nẻo…
Con vội dệt vần thơ, lòng lạnh lẽo
Kính dâng cha, miền tiên cảnh xa xôi…
Xin nhớ rằng: dù vật đổi, sao dời
Con vẫn tiến mặc tình đời lạnh, ấm.
Giác Huệ
Chiến Thắng
Tung chân đạp, cho đổ tường giãi đãi
Vung đôi tay, cho đứt sợi tơ tình
Thổi gió lên, cho thấy rỏ trời xanh…
Vẹt mây xám, cho ánh hồng lố dạng.
Dù gặp phải tam đồ, vương bát nạn
Cười khinh nguy, cứ vững bước ngang nhiên.
Nuốt chua cay, miễn chí nguyện vẹn tuyền.
Cải tục lụy, hòan tòan thôi hệ lụy.
Tiến! tiến! tiến! Ta là người chiến sĩ.
Mà tâm tư là một bãi sa trường
Mà quân thù là bè lũ ma vương
Còn tướng tá, là tham lam, sân giận.
Ta quyết tiến, đánh tan, tiêu diệt tận
Cho đến khi cướp được ải Niết Bàn,
Treo Hùynh kỳ phất phới ánh vinh quang.
Mới cầm chắc trong tay nguồn thắng lợi…
Ồ gió sớm reo hò trong nắng mới,
Đây hương đời thơm ngát ý từ bi,
Hãy ra di, chớ ngại, phải ra đi,
Say chiến đấu mong ngày mai chiến thắng.
Nếu tiến mãi…dù mệt nhòai cũng đặng
Bằng rút lui, là chưa chiến đã thua
Thuyền ra khơi, mà sợ sóng gió đùa
Tâm như thế, là tâm hồn yếu ớt.
Cây quỵ ngã: do đốn xong”búa chót”
Thành xây nên: bởi viên đá”sau cùng”
Sợ làm chi, chỉ một trận thư hùng
Mà kẻ thắng, là thắng khi”trận cuối”.
Khóc: nhục nhã, r ên: hèn, than: yếu đuối
Hơi còn đây, nghị lực hãy còn đây
Và còn đây: chí hướng độ muôn lòai
Thì đứng dậy, cười lên, hùng dũng tiến.
Giác Huệ
Vịnh Thái Tử: Sĩ Đạt Ta
Xem qua tứ khổ, biệt loan phòng,
Dưới cội Bồ Đề chứng lục thông.
Lộc giã vi vu luồn pháp vũ,
Sa La thổn thức ngọn trào lòng
Vầng mây đỉnh Thứu, tan lời sắc,
Cổ thọ vườn Kỳ, vắng tiếng không.
Thập nhị kinh văn, thiên cổ tụng,
Hăm lăm thế kỷ lệ tuôn giòng…
Cánh chim bạt gió
“Ai đi mãi miết trong sương gió,
Thỉnh thỏang xin dừng nghe tiếng chuông”.
Thuở ấy: bạn lòng quảy bát y,
Như chim sòe cánh, cá giương kỳ.
Chim kia sòe cánh bay bay liệng,
Cá nọ giương kỳ: lội lội đi.
Trời rộng…lửng lơ đôi cánh nhạn…
Bể sâu thong thả một con Kình…
Tiêu dao: năm, tháng, ngày, nhanh nhẹn.
Điệp nở, điệp tàn, bốn độ xinh.
Bỗng, cánh chim kia…thôi quạt gió,
Đôi kỳ cá nọ: hết giương mau.
Chim thôi quạt gió: chim sa lưới,
Cá xếp vi, kỳ: cá vướng câu.
Chiều ấy…bạn đi, chiều lá rụng…
Chiều nay…trở lại, điểm heo may.
Điệp xưa: rơi đỏ, mừng cho bạn,
Nay: khóc con chim sớm lạc bầy.
Đây: tả tơi cây, lồng lộng gió…
Sầu! mây du lịch bốn phương ngàn.
Trong sương có kẻ lâm râm nguyện;
…”Cho một con chim sớm gặp đàn”.
Một phương pháp thư giãn giúp an lạc trong cuộc sống 
Thế gian ngày nay con người dễ chi phối và tác động bởi môi trường ngoại cảnh xung quanh làm cho con người khó chịu và bất an. Cho nên vấn đề thư giản rất quan trọng, đưọc xem như là một phương pháp giúp con người được an vui, và trở lại sự bình ổn nơi tâm sau thời gian làm việc mệt nhọc. Chính điều này thư giản là vấn đề cần phải biết để sử dụng trong mỗi chúng ta. Như chúng ta biết thư giản có nhiều cách nhưng vần đề thư giản làm sao cho chúng ta được an vui mà còn phát triển nhiều thiện lành và tăng trưởng trí tuệ. Có thể dùng hình thức từ đời đến đạo, từ hành động đến ý thức từ thấp đến cao, cụ thể thực hành những phương pháp sau:
1. Tư duy theo nhà Phật để đi đến vô chấp lìa khổ được vui, không chấp tôi, của tôi hay vào cái có, không, cái ngã sở của ta.
2. Thực hành những công việc để đem lợi ích như thay đổi oai nghi tu hành bằng cách lễ Phật, tụng kinh, đi kinh hành… vừa được an lạc hiện tại lại vừa chuyển đổi nghiệp chướng đã tạo ở quá khứ.

                                                                  
3. Hoặc nghe pháp, nói chuyện, bàn luận đạo pháp của bậc Thánh, xem phim Phật giáo, hay nghe nhưng gì liên quan đến giáo lý và lời dạy của đứcPhật.
4. Liên tưởng đến một số cách thư giản của các tác giả nổi tiếng theo cách thư giản của người thế gian như nghe nhạc, du lịch, ca hát, thể dục, hóng mát….
                                                                 
                                      

5. Hay quán tâm từ, bất tịnh, quán đi đến lìa khổ và để bớt đi sự chi phối từ ngoại cảnh.
6. Hãy xem tất cả những gì mình không thích là của mình để không phiền não hay do ta nhìn hạn hẹp nên thấy mọi thứ khó chịu không cảm thông được. Hoặc do chúng ta càng tu thì tâm thanh tịnh hay có nhiều phước thuận duyên nếu ta không có chánh kiến, nhìn rộng thì sẽ dễ khởi niệm chấp ngoại cảnh do còn ngã nên chấp tôi và ta…
Tư duy theo Phật giáo để được an vui hạnh phúc: Chúng ta khổ đau hay khó chịu không an vui là do tâm lý con người bị cảnh tác động lên các giác quan đưa đến những cảm giác, cảm thọ có nhận thức, nếu có chánh kiến thì có tư duy và hành động chơn chánh….  Do chúng ta vô minh không thấy rõ sự thật nên chấp khổ đau, không thấy rõ nghiệp báu nhân quả nên bị nghiệp chi phối, nếu người có chánh kiến thì biết  các pháp là do nhân duyên và những gì đến với ta điều có nhân cả, do đó điều gì đến ta phải chấp nhận và hoan hỷ. Nhờ có chấp nhận và hoan hỷ nên mới trả được nghiệp, bên cạnh còn phải tích luỹ nhân thiện lành, tinh tấn tu tập để thoát khổ đau, đem sự an vui cho người. Tâm lý chúng sanh thì thích sự thụ hưởng vui thích của thế gian, lúc nào cũng muốn những gì thích, theo ý mình nên khi gặp gì không ưa, chướng duyên là khó chịu. Cho nên những người nghiệp năng nói đến tu là họ không thích hay do nghiệp và chưa đủ duyên nên nói đến tu là họ rất chán. Đối với người có duyên lành thì gặp được Phật pháp chịu cố gắng hành trì và gặp được thầy hợp nhân duyên hướng dẫn mau tiến bộ. Từ đó có niềm tin Tam bảo và cố gắng hành trì tu tập. Lúc này tinh tấn tu và không còn ham thích những chuyện thế gian nhiều và những hình thức thú vui bên ngoài nữa.
Ngay từ lúc nhỏ mà chúng ta biết tu bổ và trao dồi những kinh nghiệm của đời cũng như đạo, tập cho tâm kiên cố để khi tiếp xúc với cảnh hay làm việc gì chúng ta vững vàn vượt qua hay biết diệu dụng hay biết dùng nhiều phương tiện thiện xảo để tâm không lay chuyển và dao động. Nhờ có tu và có học nên có đức độ và tài năng đến khi làm việc nói ra được nhiều người nghe và làm theo, và biết ứng dụng pháp tuỳ duyên với con người để cho phù hợp căn tánh chúng sanh. Nhờ tuỳ thuận căn cơ nên hiểu được việc tu nên ý thức tu tập không buông lung và say mê theo cảnh. Cụ thể: Đối với người tu thì phương tiện cho người để tu tập, cho những chúng sanh nào chưa biết đạo thì nên dùng hình thức thế gian để tạo duyên với họ. Sau đó chỉ cho họ tu và nhận thức rõ con đường để đi đến hạnh phúc giải thoát. Đối với người tu tập cao đầy đủ năng lực, duyên phước có đủ thiện xảo mới làm phương pháp này.
Chúng ta biết tu không phải thuận duyên hoài, cái nghịch cảnh mà ta vượt qua được cũng trở thành thuận vì ai cũng phải gặp cảnh nghịch, Cái nghịch do tâm chúng ta khó chịu, không chịu tu nên khổ đau chúng ta phải cẩn thận trong hành động và việc làm để tránh những đáng tiếc xẩy ra. Nhờ có tu nên vượt qua, biết thông cảm và thương xót tất cả mọi người. Mà ngày nay xã hội phát triển, khi con người càng phát triển thì sống chỉ biết mình thiếu tình người và ai cũng lo tạo nhân cho bản thân, và thiếu tu tập nên chịu nhiều khổ đau. Do đó chúng ta phải ý thức thư giãn theo lời Phật dạy để sống không bị cảnh chi phối, chúng ta phải quan tâm thương xót đến người, càng sống cho người, vì mọi người, biết quan tâm chia sẻ thì nhất định ta được an vui hạnh phúc và ít bị nhiếu oán thù khổ não. Mỗi người chúng ta, ai cũng có nghiệp xấu do đó phải tạo nhân để tích luỹ thiện, nếu muốn tu mà chưa đủ duyên và chưa trả hết nghiệp thì không thành tựu được, vì thế hãy tích luỹ tu trì, hành thiện và trả nghiệp. Việc tạo nhân có thể bằng cách: tu tập gìn giữ giới, an trú tâm, quán sự vô thường, các pháp là huyễn hay dã hợp… hoặc tích cực khởi niệm lành biết thông cảm tha thứ hướng đến số đông.
Và một điều nữa là tu không phải lúc nào cảnh cũng như ý vơí ta, mà cảnh luôn thay đổi theo nhân duyên, nhưng làm sao chúng ta sống với cảnh mà ý thức làm chủ được không bị chi phối. Nhưng nhờ ý thức được nên biết đây là cảnh thế gian, không đưa đến giải thoát. Nhưng do phải trả nghiệp nên phải chấp nhận hoan hỷ đối diện và làm những hành động tốt, ta làm nhưng không chấp vì làm hành động lành đây cũng là nhân để trợ duyên việc tu tập sau này và vừa tạo duyên với những chúng sanh. Ví dụ: Đối với người tu khi ta sống hiện tại nên tiếp xúc với chúng sanh để tạo duyên cho họ tu tập nếu họ chịu tu thì nói pháp tu, còn chưa đủ duyên thì chỉ làm quen, gieo duyên. Do vì tu nên phải tiếp xúc hay do vì nhân quá khứ đã gieo nên phải trả và khi tiếp xúc hoá duyên mà ý thức đến tu hành, hoá duyên tiếp xúc mà hiểu được đây là do duyên nên phải làm, nhờ đó không chấp vào việc làm và không bị cảnh chi phối. 
Cuối cùng để ý thức và làm chủ được tâm mình khi làm việc hay tiếp xúc cảnh thì trước hết chúng ta phải lo tu tập, trao dồi trí tuệ, thực hành có chánh niệm để làm chủ và ý thức được. Chúng ta đừng để tới già mới ý thức việc tu mà tu trong mọi lúc vì vô thường không chờ một ai, nhờ đó tâm không dám phiền muộn mà lo tu hành. Khi xã hội phát triển thì vô thường ngày càng tiến đến gần đeo đuổi ta, chúng ta không phải để tới bịnh đau và già yếu mơí thấy được vô thường mà vô thường sanh diệt luôn diễn ra, nhờ thấy vô thường để thúc liễm thân tâm ý thức trong tu tập không lơ là, dễ duôi trước ngoại cảnh và không tham đắm trước cảnh đời. Nhưng vì duyên đến nên phải chấp nhận phải làm cho tốt, nên hoan hỷ, tinh tấn tu tập tạo nhiều nhân lành, biết con người ai cũng chết, chúng ta mà bịnh đau là do nghiệp phước mỗi người nhưng nhờ có tu nên giúp ta ý thức để tu còn những người ở đời không thấy vô thường mà vẫn tự nhiên sống để khi vô thường đến rồi không ý thức và làm chủ, nên phải bị chịu luân hồi khổ đau.
Với những phương pháp chia sẻ trên mong mọi người hiểu được phương pháp này để giúp chúng ta được an lạc hạnh phúc ngay hiện tại, không những giúp cho ta có được một nhận thức rõ về sự khổ và biết một cách thức sử dụng linh hoạt khi gặp những điều căng thẳng, khó chịu xảy ra. 

                                                                                                          Bài viết:   SƯ MINH GIẢI


Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2012

NHẠC CHÚ ĐẠI BI

                                                                                                                       
 
 
                                        

CA DAO VỀ CHA MẸ-VU LAN BÁO HIẾU

Ơn cha lành cao như (non) núi Thái

Đức mẹ hiền sâu tợ biển khơi

Dù cho dâng trọn một đời

Cũng không trả hết ân người sinh ta
 @

Cùng tột điều thiện không gì hơn hiếu.

Cùng tột điều ác không gì hơn bất hiếu.


Dù con theo trọn kiếp người

Cũng không đi hết những lời mẹ ru


Nguyện làm con thảo

Nhớ nghĩa thân sanh

Con đến trưởng thành

Mẹ dày gian khổ


Tâm hiếu là tâm Phật

Hạnh hiếu là hạnh Phật


Nghĩ về mẹ trời luôn tươi sắc nắng

Hoa trong vườn không gió cũng xôn xao
Thơ Song Nguyên

Chiều chiều ra đứng ngõ sau

Ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều


Một lòng nhớ mẹ thương cha

Chưa tròn chữ hiếu sao là phận con?


Nếu mình hiếu với mẹ cha

Thì con cũng hiếu với ta khác gì


Nuôi con chẳng quản chi thân

Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn

Biết lấy chi đền nghĩa khó khăn

Lên non xắn đá xây lăng phụng thờ.


Công cha nghĩa mẹ cao vời

Nhọc nhằn chẳng quản suốt đời vì ta

Nên người ta phải xót xa

Đáp đền nghĩa nặng, như là trời cao.


Đêm đêm khấn nguyện Phật trời

Cầu cho cha mẹ sống đời với con


Con mất mẹ như nhà xiêu không nóc

Gió mưa đời biết nương tựa nơi đâu


Gió đưa cành trúc la đà

Cha mẹ còn sống Phật Đà hiện thân


Công cha như núi Thái sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha

Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con


Ân cha nặng lắm ai ơi

Nghĩa mẹ bằng trời, chín tháng cưu mang


Cha mẹ nuôi con biển hồ lai láng

Con nuôi cha mẹ tính tháng tính ngày


Mẹ già như chuối chín cây

Gió lay mẹ rụng, con rày mồ côi.


Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa

Miệng nhai cơm bún , lưỡi lừa cá xương


Mẹ già như chuối ba hương

Như xôi nếp một như đường mía lau


Dây bầu dây mướp cùng leo

Nuôi cha dưỡng mẹ, giàu nghèo xá chi


Kính dâng lên mẹ đoá hồng

Thắm tươi dào dạt mênh mông biển trời


Hoàng hôn phủ trên mộ

Chuông chùa nhẹ rơi rơi

Tôi Thấy tôi mất mẹ

Như mất cả bầu trời
Thơ Xuân Tâm

Chiều mưa man mác tiếng chuông

Quặn lòng con giữa vô thường mẹ ơi

Cầu mong mây tạnh sáng trời

Cho đồng lúa tốt cho đời mẹ vui


Từng bước reo vui ý tuyệt vời

Thu về hạnh phúc hiện nơi nơi

Áo em tươi nở cành hoa mẹ

Có mẹ là em có đất trời


Quê hương mỗi người chỉ một

Như là chỉ một mẹ thôi
Thơ Đỗ Trung Quân

Mẹ ơi dáng mẹ là quê

Để khi mệt lả con về náu thân.


Con vẫn là con của mẹ mà

Mẹ đừng xua đuổi mẹ chớ la

Con yêu thương mẹ nên thèm mẹ

Trẻ mãi hồn con chứ chẳng già


Lung linh hương khói toả

Mẹ niệm A Di Đà

Trong hào quang điều ngự

Cùng có mẹ con ta


Ngôn ngữ trần gian là túi rách

Đựng không đầy hai tiếng mẹ ơi
Thơ Vũ Hoàng Chương


Phụng thờ trời đất quỷ thần, thì không bằng hiếu thảo với cha mẹ. Cha mẹ là thần linh bậc nhất .

( Kinh 42 bài )


Giờ ư ! Mẹ đã lặng thinh

Nỗi lòng con chỉ một mình con thôi

Cỏ xanh mộ mẹ lưng đồi

Tiếng chuông chiều đổ ,từng hồi hư không


Thơ nào tạc được chân dung mẹ

Lồng lộng non cao tuyết trắng đầu


Hãy thương đi khi mẹ còn biết

Đừng chờ đến lúc mẹ ra đi

Ghi lời yêu quý trên bia đá

Mỹ từ trên phiến đá vô tri


Hãy nói lên điều con muốn nói

Đừng chờ đến lúc mẹ ngủ say

Một giấc ngủ không bao giờ dậy

Ngàn đời ngăn cách chẳng ngày mai


Con ơi! Con là Việt

Nguồn gốc của Rồng Tiên

Tổ tiên theo đạo Phật

Nên dân tộc mình hiền


Cha mẹ ân thâm tựa đất trời

Thương con nuôi dạy chẳng đầy vơi

Mở vòng tay lớn vì con trẻ

Hướng dẫn con đi suốt cuộc đời


Lòng mẹ là trời vạn nhớ thương

Vì con gánh chịu mọi tai ương

Hy sinh tất cả quên gian khổ

Lòng mẹ là trời vạn nhớ thương


Con ngã lòng mẹ đau

Con khóc lòng mẹ sầu

Thân con liền ruột mẹ

Con thơ nào biết đâu


Mẹ già tóc trắng bao lần khóc

Vẫn khóc thương hoài chuyện cháu con


Mẹ già như chuối ba hương

Dạt dào tình mẹ niềm thương vô bờ


Còn cha gót đỏ như son

Đến khi cha chết gót con đen sì

Còn cha nhiều kẻ yêu vì

Một mai cha thác , ai thì yêu con


Cha là bóng cả ngả che con

Là cả tình thương chẳng xoáy mòn

Là cả cuộc đời vô biên quá

Nặng nghĩa tình cha như nước non


Cha về âm cảnh hồn phảng phất

Con ở dương gian dạ ngậm ngùi

Hiếu đạo chưa đền ơn cúc dục

Khuất còn thêm tủi phận làm con


Xin mẹ nhận lạy này con bất hiếu

Đã bao lần làm mẹ khổ ngày xưa

Đã bao lần làm mẹ khóc như mưa

Bao nhiêu lạy cũng chẳng vừa ơn mẹ


Cha mẹ nuôi con bằng trời bằng bể

Con nuôi cha mẹ con kể từng ngày


Sống thì con chẳng cho ăn

Chết thì xôi thịt làm văn tế ruồi.


Thế gian còn dại chưa khôn

Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành


Đêm đêm khấn nguyện Phật trời

Cầu cho cha mẹ, sống đời với con


Khuyên ai thương lấy cha già

Sống mà ngồi đó bằng ba của tiền


Trung nguyên ngày hội vọng Vu Lan

Bến giác chiều thu sóng đạo ngàn

Những ai là kẻ mang ơn nặng

Đều vận lòng thành đón vu lan


Lấy món cam lồ phụng dưỡng cha mẹ là hiếu thế gian.

Khuyên cha mẹ Quy Y Tam Bảo, luôn giử năm giới cấm là hiếu xuất thế gian .


Đêm khuya trăng rụng xuống cầu

Cảm thương cha mẹ, dãi dầu ruột đau


Biển đông có lúc đầy vơi

Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng


Ai về tôi gởi buồng cau

Buồng trước kính mẹ buồng sau dâng thầy


Lên non mới biết non cao

Nuôi con mới biết công lao mẫu từ


Nhớ ơn chín chữ cù lao

Ba năm bú mớm biết bao nhiêu tình


Nuôi con chẳng quản chi thân

Chỗ ước mẹ nằm, chỗ ráo con lăn


Mẹ già ở túp lều tranh

Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con


Đi đâu bỏ mẹ ở nhà

Gối nghiêng ai sửa, chén trà ai dâng


Nuôi con khó nhọc đến giờ

Trưởng thành con phải biết thờ song thân


Thờ mẹ cha đúng pháp

Buôn bán đúng thật thà

Gia chủ không phóng dật

Được sanh Tự Quang Thiên


Phựng dưỡng cha và mẹ

Là vận may tối thượng


Làm con đối với cha mẹ:

Đem lễ mọn cúng dường thì được phước vô lượng

Cư xử không hiếu kính thì tội cũng vô lượng

Nếu không thể cải hoá cha mẹ, phụng thờ Tam bảo, thì tuy có hiếu dưỡng cha mẹ, cũng gọi là bất hiếu .
Kinh Phật

Ngày rằm tháng bảy mỗi năm

Vì lòng hiếu thảo ơn thâm phải đền


Mẹ già như chuối chín cây

Gió lay mẹ rụng con rày mồ côi


Cá không ăn muối cá ươn

Con cãi cha mẹ trăm đường con hư


Cây khô đâu dễ mọc chồi

Mẹ già đâu dễ ở đời với con


Cho em hái đọt rau dền

Nấu tô canh ngọt dâng lên mẹ già


Hội này hội lễ vu lan

Nhớ ơn cha mẹ mênh mang biển trời


Đoá hồng ngày ấy còn đây

Mẹ như cánh hạc vút bay cuối trời

Từ ly không nói một lời

Cúi nhìn hoa trắng ngậm ngùi tử sinh
Thơ Giác Tâm

Nắng lên tan hạt sương rồi

Hốt nhiên con hiểu nổi trôi phận người
Ân tình thoáng chốc chia phôi

Nguyện cầu mẹ thoát luân hồi tử sinh
Thơ Giác Tâm

Chiều nay mây trắng, vương vương tóc

Nhớ mẹ bao lần quá lao lung

Đoạn trường ai có … nên con khóc

Nguyện mẹ tiêu dao cõi vô cùng
Thơ Giác Tâm

Gần nửa đời người con mới hiểu

Thế nào thận phận trẻ mồ côi

Tình đạo bạn dành cho con không thiếu

Nhưng mẹ ơi con vừa mất bầu trời.
Thơ Giác Tâm

Bà về nơi tịnh lạc

Thầy con hoá mồ côi

Mùa xuân buồn man mác

Hạc trắng vừa xa khơi
Thơ Giác Tâm

Nặng nề chín tháng cưu mang

Công sinh bằng vượt bể , sang nước người


Con đi suốt cả cuộc đời

Cũng chưa đi hết mấy lời mẹ ru


Duyên hội ngộ đức cù lao

Bên tình bên hiếu bên nào nặng hơn

Để lời thệ hải minh sơn

Làm con trước phải đền ơn sinh thành.

( Kiều - Nguyễn Du )


Lời cầu tất cả thế gian:


Ai giàu, ai sang, ai nghèo, ai khó

Ai khôn , ai dại, ai phải , ai không

Ai ai lấy Phật làm lòng

Từ bi hỷ xã mới thoát vòng trầm luân.
  MÙA VU LAN
Thơ dâng Mẹ
Đến giữa mùa Vu Lan
Con cúi đầu đảnh lễ
Xông trầm và đốt nhang
Trong lời kinh tiếng kệ
Mong xin Phật ban ân
Đem bình an cho Mẹ
Mẹ
Mẹ là biển cả bao la
Mẹ là Trời Đất chan hoà mến thương
Dâng Mẹ
Kỷ niệm ngày Mẹ vĩnh viễn xa con
Lời ru vọng lại xôn xao nắng chiều
Hạ vàng đất giấu Mẹ yêu
Lang thang gió chở cánh diều mây xa

Sụt sùi ngọn cỏ chân qua
Niềm đau ký ức vỡ oà trong con
Ngỗn ngang mảnh sắc hoàng hôn

Bao nhiêu khốn khó tay ôm riêng mình
Vùng trời xanh Mẹ lặng thinh
Cho con đón ánh bình minh vào đời

Tiếng chim non lạc giữa trời
Mùa về rưng rức nghẹn lời Mẹ ru
Ban mai bất chợt mây mù...
Nhớ Mẹ
Chiều về chầm chậm gió mơn man
Sót lại tàn cây chút nắng vàng
Mộ chí im lìm sầu cỏ úa
Khói mờ nhân ảnh. Bụi thời gian

Lối nhỏ rêu phong chạnh tiếng lòng
Mẹ giờ yên giấc giữa mênh mông
Thu buồn hiu hắt phai màu lá
Gọi Mẹ âm thầm khoảng vắng không

Nhớ Mẹ bao ngày trĩu nặng vai
Lo toan trăn trở những đêm dài
Tóc mây sớm nhuộm màu mưa nắng
Cho trẻ hồn nhiên trọn giấc say

Âm thầm đếm bước tuổi xuân trôi
Mẹ hỡi ngàn thu cách biệt rồi
Dâng nén hương trầm nương cánh gió
Nỗi niềm con trẻ... Mẹ hiền ơi!
Mẹ ơi
Mẹ ơi
sóng vỗ trắng gành
niềm riêng se úa nắng hanh phương đoài
bãi chiều in bóng ngả dài
bước chân thất thểu mỉa mai mây ngàn
chìm trong đau đáu miên man
con gom cáu cặn thời gian lưng chừng
ngó lên Hòn Kẽm Đá Dừng
tượng đài kiệt tác rưng rưng mạch nguồn
bốn bề ngợp gió chiêu hồn
cánh diều nghiêng phía u buồn rịm nâu
một đời
Mẹ chắp dãi dầu
khâu thành manh áo bạc màu mốc meo
choàng lên thân phận cheo neo
để xưa nghìn lẻ nương theo hương quỳnh
hoàng hôn
đan chéo thinh thinh
cát chùi ngấn cát dị hình mộng du
ngọn nồm ảo lộng hoang vu
mơ hồ tươm mật lời ru lả mềm
bờ mi cay bụi nhá nhem
phi lao trùng điệp chờ đêm sương choàng
sóng oà khát vọng dã tràng
bốn mùa quanh quẩn bẽ bàng thôi miên
âm dương
cách trở hai miền
Mẹ ơi!
cuộc thế đảo điên khôn lường

vấn vương vương vấn vấn vương
bồi hồi miệm chú biên trường cuồng sơn
còm lưng cõng khối trống trơn
con lê bước khểnh chập chờn hôm mai
Tứ Hiếu :
"Một, dưỡng nuôi là hiếu dưỡng bình thường
Hai, hiếu hạnh là việc làm hiếu thảo
Ba, hiếu tâm là lòng thành con, cháu.
Dù ở xa cũng hướng đến cha mẹ hiền
Ba hiếu trên chỉ giúp thể xác được bình yên
Nhưng không thể cứu tội căn cho Phụ-Mẫu
Chưa tạo phước lành ai hiểu thấu
Khi lâm chung siêu đọa ai tận tường
Hiếu thứ tư, hiếu đạo vượt bình thường...!’’
(Bước Chân Xuất Thế) ............ Vu Lan dâng Mẹ Sen Hồng
Cho tròn chữ hiếu vẹn trong tâm nầy
Dù đời đôi ngã chia hai
Tình con thương Mẹ đêm ngày chứa chan...
Từ là tâm chẳng sân-si
Bi là thương hết không vì một ai
Hỷ là vui vẻ hòa hài
Xả là xóa hết đắng cay vui buồn...
((°_°))
Mẹ...
Chữ đầu tiên tôi cất lời tập nói
Tay mẹ ôm, vòng tay ấm đầu đời
Mẹ mỉm cười pha lê vỡ trên môi
Vầng trán xếp đời phân chia lối rẽ

Một mùa Thu vầng trăng êm rất nhẹ
Tôi trong mẹ đều hơi thở nhịp tim
Buổi sáng sớm có tiếng nói dịu êm
Đêm vỗ về lời thì thầm cổ tích .

Chín tháng mang, đời mẹ cho tôi hết
Đêm bình yên, có tiếng nổ xa xôi
Giật mình lo sẽ khốn khổ đời tôi
Tiếng thở dài vào tương lai vô tận

Một buổi sáng, mưa bay, tôi đạp mạnh
Từng cơn đau, đau xé đứt ruột gan
Nước mắt mẹ tan he hé một nụ cười
Mẹ hạnh phúc, sinh tôi là hạnh phúc

Những năm trôi, mẹ vất vã vì tôi
Bú, mớm, nuôi thân mẹ úa tàn rồi
Có những lúc tôi nằm trong cơn sốt
Mẹ ôm tôi, "Nguyện chết thế con tôi!"

Có những lúc quê hương còn đói khổ
Mẹ cho tôi bát cơm trắng phau phau
Tay xuýt xoa củ khoai sượng không màu
"Mẹ ăn được, củ khoai này ngon lắm!"

Có những lúc đêm về trong giá lạnh
Tĩnh giấc nồng thấy mẹ đắp thêm chăn
Tôi ấm áp, bên mẹ nằm co quắp
Nhường cho tôi tất cả lửa yêu thương

Có buổi sáng, mắt mẹ rưng rưng lệ...
Quay vào trong nói khẽ "con đi đi .."
Vầng tóc rối đen tối dấu chia ly
Khóe chân chim khắc sâu đời dâu bể..

Mẹ của tôi ... Tôi có mẹ trong đời
Tim của mẹ, tất cả là của mẹ
Lỡ lìa đời một ước nguyện, mẹ ơi!
Chẳng có gì phân ly tình mẫu tử. 
Ân Nghĩa Sinh Thành Kính Mừng Mùa Báo Hiếu
Ân cha hơn núi lớn
Nghĩa mẹ hơn đất dày
Hy sinh lòng chẳng quản
Mà vẫn không nguôi ngoai.
Mẹ già hơn trăm tuổi
Vẫn thương con tám mươi.
Tình thương nào ngơi nghỉ,
Đến hơi thở cuối đời !
(Ân đức thứ 10, Kinh Báo Ân Cha Mẹ)
___
Phụng dưỡng mẹ và cha
Là phước lành tối thượng
(Kinh Hạnh Phúc)
___
Tâm hiếu là tâm Phật,
Hạnh hiếu là hạnh Phật !

___
         Sưu tầm

Thứ Sáu, 10 tháng 2, 2012

VCD-HÀI